|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thanh M
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Song H
2. Bà Ngô Thị Thúy H
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Q – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc T – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QĐST-HPT ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1979
Địa chỉ: G N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Bị đơn: Ông Đặng Văn K, sinh năm 1974.
Địa chỉ: BL, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27-12-2023, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Bà Trần Thị N và ông Đặng Văn K quen biết, yêu nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 07-7-2010. Trong thời gian chung sống với nhau có 04 con chung là cháu Đặng Thị Ngọc T, sinh ngày 29-4-1998; Đặng Phước T1, sinh ngày 16-10-2000; Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 11-5-2006 và Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con chung, tạo lập cuộc sống gia đình. Qúa trình chung sống cũng có những lúc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhưng ông K và bà N đều hòa giải được.
Thời gian 02 năm gần đây, ông K và bà N thường xuyên phát sinh mâu thuẫn xung quanh cuộc sống sinh hoạt vợ chồng, có những lúc mâu thuẫn đã xảy ra xô xát với nhau. Cuộc sống vợ chồng bế tắc đã diễn ra trong nhiều năm. Mặc dù mâu thuẫn đã được gia đình, người thân hàn gắn, động viên nhưng khoảng cách vợ chồng ngày càng xa cách. Hiện nay ông K và bà N không còn dành cho nhau tình cảm yêu thương vợ chồng. Bà N thực sự cảm thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông K thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy bà N yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà N và ông K có 04 con chung là cháu Đặng Thị Ngọc T, sinh ngày 29-4-1998; Đặng Phước T1, sinh ngày 16-10-2000; Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 11-5-2006 và Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007. Cháu T, T1 và D đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu V và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đặng Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư kí, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông K và bà N phát sinh mâu thuẫn, bà N xác định không còn tình cảm với ông K. Ông K không đến Tòa làm việc nên chưa thể hiện thiện chí, chủ động và quyết tâm hàn gắn mối quan hệ vợ chồng đã rạn nứt, chia rẽ của mình, cũng không tham gia hòa giải để có sự động viên, tác động nhằm cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Nay bà N xác định tình cảm không còn, một mực xin ly hôn nên khả năng hàn gắn vợ chồng là không thể. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N; Về con chung: có 04 con chung là cháu Đặng Thị Ngọc T, sinh ngày 29-4-1998; Đặng Phước T1, sinh ngày 16-10-2000; Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 11-5-2006 và Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007. Cháu T, T1 và D đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu V đã đủ tuổi thể hiện nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn và cháu V có nguyện vọng ở với bà N. Bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, để đảm bảo nuôi dạy chăm sóc con tốt nhất thì việc giao cháu V cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp; Về tài sản chung, nợ chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Bà Trần Thị N có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Đặng Văn K, có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đặng Văn K. Tại phiên tòa hôm nay, ông K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của ông K và bà N không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ quy định pháp luật Tòa tiến hành giải quyết vắng mặt ông K và bà N.
[2]. Về hôn nhân: Xét ông Đặng Văn K và bà Trần Thị N chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 07-7-2010, như vậy hôn nhân giữa ông Đặng Văn K và bà Trần Thị N là hợp pháp.
Trong thời gian ông K và bà N chung sống với nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà N là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống, không còn thương yêu nhau. Bà N cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông K thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Hai bên cũng đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả.
Ông K vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa nên chưa thể hiện thiện chí, không tranh thủ sự tác động, động viên, hòa giải của pháp luật để hàn gắn hôn nhân giữa ông và bà N. Ông K không tham gia tố tụng tại Tòa nên chưa thể hiện được nguyện vọng thiết tha muốn đoàn tụ của ông.
Do ông K vắng mặt, để xem xét yêu cầu của bà N, Tòa đã tiến hành xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương theo quy định của pháp luật.
Nay bà N cương quyết ly hôn do không còn tình cảm với ông K nên khả năng đoàn tụ là rất khó khăn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà N có cơ sở để xem xét nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung: Ông K và bà N có 04 con chung là Đặng Thị Ngọc T, sinh ngày 29-4-1998; Đặng Phước T1, sinh ngày 16-10-2000; Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 11-5-2006 và Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007. Cháu T, T1 và D đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu V đã đủ tuổi theo quy định pháp luật được nêu quan điểm ý kiến về việc có nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn và cháu có nguyện vọng ở với bà N. Hiện nay bà N cũng có công việc ổn định, có thu nhập và có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu V. Vì vậy, để đảm bảo nuôi dạy chăm sóc cháu V được tốt nhất thì việc giao cháu V cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị N ly hôn.
- Về con chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị N có 04 con chung là Đặng Thị Ngọc T, sinh ngày 29-4-1998; Đặng Phước T1, sinh ngày 16-10-2000; Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 11-5-2006 và Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007. Cháu Đặng Thị Ngọc T, Đặng Phước T1 và Đặng Thị Ngọc D đã trưởng thành nên bà Trần Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao cháu Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007 cho bà Trần Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Đặng Văn K có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của các con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị N nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002472 ngày 04-3-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Bà N đã nộp xong án phí
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh BR-VT;
- - VKSND TP. Vũng Tàu;
- - THADS TP. Vũng Tàu;
- - UBND UBND xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
- - Các đương sự,
- - Lưu hồ sơ.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Phạm Thanh M |
Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về ly hôn
- Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N. Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị N ly hôn. Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị N có 04 con chung là Đặng Thị Ngọc T, sinh ngày 29-4-1998; Đặng Phước T1, sinh ngày 16-10-2000; Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 11-5-2006 và Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007. Cháu Đặng Thị Ngọc T, Đặng Phước T1 và Đặng Thị Ngọc D đã trưởng thành nên bà Trần Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao cháu Đặng Ngọc Tường V, sinh ngày 19-11-2007 cho bà Trần Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
