|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/4/2024
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Bích Dung
2. Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 344/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/12/2023 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1642/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Võ Quốc B, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: F ấp D, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Hộ chiếu số: Q00358818
Địa chỉ: Tầng A, số A, đoạn A, đường F, quận T, thành phố T, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/9/2023 và bản tự khai, nguyên đơn – ông Võ Quốc B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị O tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 176/KH quyển số II/2002 do Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2002. Sau một thời gian chung sống, ông nhận thấy hai bên không hiểu nhau, khác biệt về cách sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc thường xuyên cãi vã, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Từ năm 2013 đến nay bà O đã sang Đài Loan sinh sống. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà O.
Về việc nuôi con: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Khánh L, sinh ngày 02/3/2004 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai được chứng thực của Văn phòng K tại Đ ngày 10/01/2024, bị đơn – bà Nguyễn Thị O trình bày:
Bà và ông Võ Quốc B kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 176/KH quyển số II/2002 ngày 04/12/2002. Sau khoảng thời gian chung sống với nhau, vợ chồng cảm thấy không hiểu nhau, giữa vợ chồng có nhiều khác biệt trong cách sống, quan điểm sống và phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc thưởng xuyên cãi vã, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 đến nay do bà sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Nay ông Võ Quốc B khởi kiện yêu cầu xin ly hôn thì bà đồng ý.
Về việc nuôi con: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Khánh L, sinh ngày 02/3/2004 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Bà Nguyễn Thị O và ông Võ Quốc B có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Ngày 06/9/2023, ông Võ Quốc B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị O. Bà Nguyễn Thị O đang cư trú tại Đài Loan, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị O và ông Võ Quốc B có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 176/KH quyển số II/2002 do Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2002 thì bà Nguyễn Thị O và ông Võ Quốc B có đăng ký kết hôn, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông B và bà O thừa nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hiểu nhau, sau đó sống xa cách mỗi người một nơi nên vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay ông B yêu cầu ly hôn, bà O đồng ý. Do đó, có cơ sở xác định ông B và bà O đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của ông B về việc xin ly hôn với bà O.
Về việc nuôi con: Căn cứ Giấy khai sinh số 91 do Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/5/2004 thì Võ Ngọc Khánh L, sinh ngày 02/3/2004 là con của ông Võ Quốc B và bà Nguyễn Thị O, đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Võ Quốc B phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quốc B.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Quốc B được ly hôn với bà Nguyễn Thị O.
Về việc nuôi con: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Khánh L, sinh ngày 02/3/2004 đã trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Ông Võ Quốc B phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0001122 ngày 07/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Quốc B đã nộp đủ án phí.
- Ông Võ Quốc B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; bà Nguyễn Thị O có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |
Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
