|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HC-ST Ngày: 25-7-2024 “V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lương Minh Trí |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Thanh Nhật |
| Bà Kiều Thị Kim Dung |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 161/2024/TLST-HC ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HC ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thu V, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số B, ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
2. Ông Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1987;
Địa chỉ: H C, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L - Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Thanh T1 - Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị H, sinh năm 1923 (đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H là ông Đoàn Minh C, sinh năm 1953;
Địa chỉ: 7 P, Phường E, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phát Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: 8 C, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.
(Ông T, ông T1 có mặt; ông L, ông D, ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện có nội dung như sau:
Bà Nguyễn Thu V yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 209703 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp cho bà Mai Thị H ngày 21/6/1999 đối với thửa đất số 504, tờ bản đồ số 01, diện tích 1138m²; loại đất trồng lúa; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Lý do: Nguồn gốc thửa đất số 504, tờ bản đồ số 01 do bà Nguyễn Thu V khai hoang và trực tiếp quản lý, sử dụng lâu dài từ năm 1989 đến nay, có ranh giới với các hộ giáp ranh xung quanh, không ai tranh chấp. Tháng 2/2024, bà V kiểm tra lại giấy tờ phát hiện Ủy ban nhân dân huyện B cấp nhầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Mai Thị H. Do đó, ngày 09/5/2024 bà V làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q209703 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp cho bà Mai Thị H ngày 21/6/1999 đối với thửa đất số 504, tờ bản đồ số 01, diện tích 1138m²; loại đất trồng lúa; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An để bà V được đăng ký cấp lại cho đúng đối tượng sử dụng.
Tại Văn bản số 6265/UBND-TNMT ngày 08/7/2024 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B có nội dung:
Căn cứ hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Mai Thị H và đề nghị của Ủy ban nhân dân xã P, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định số 429/QĐ.UB ngày 21/6/1999 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 137 trường hợp tại xã P, trong đó có trường hợp của bà Mai Thị H, thửa đất số 504, tờ bản đồ số 01, diện tích 1138m²; loại đất trồng lúa; tọa lạc tại xã P, huyện B là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai. Do đó, việc yêu cầu của người khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Minh C có Bản tự khai ngày 10/7/2024: Ông Đoàn Minh C là con duy nhất của bà Mai Thị H (chết năm 2021), ba là Đoàn Minh T2 (chết năm 2013). Bà H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 209703 ngày 21/6/1999 đối với thửa đất 504, tờ bản đồ số 01, diện tích 1138m²; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này sai về đối tượng sử dụng, bởi vì mẹ ông C là bà Mai Thị H không phải là chủ sở hữu và cũng không trực tiếp quản lý và sử dụng thửa đất số 504, tờ bản đồ số 1. Ngoài ra, bà H không có bất kỳ quyền và lợi ích nào liên quan đến thửa đất số 504, tờ bản đồ số 1. Do đó, ông Đoàn Minh C đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu V và xin vắng mặt tại Tòa trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo qui định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung: Ủy ban nhân dân huyện ban hành quyết định số 429/QĐ.UB ngày 21/6/1999 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 137 trường hợp tại xã P, trong đó có trường hợp của bà Mai Thị H, thửa đất số 504, tờ bản đồ số 1, diện tích 1138m², đất lúa, tại xã P là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, Ủy ban nhân dân huyện B không kiểm tra, xem xét hiện trạng thực tế nên cấp không đúng đối tượng sử dụng, thực tế thửa đất số 504, tờ bản đồ số 1 do bà Nguyễn Thu V khai hoang và trực tiếp quản lý sử dụng, trên đất hiện đang trồng lúa. Thửa đất số 504, tờ bản đồ số 1 có 4 trụ xi măng và bờ làm ranh giới rõ ràng, không ai tranh chấp. Nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T, ông C và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của bà V là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà V.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thu V yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 209703 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Mai Thị H ngày 21/6/1999 đối với thửa đất 504, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 02/2024, bà V kiểm tra lại giấy tờ phát hiện Ủy ban nhân dân huyện B cấp nhầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Mai Thị H. Do đó, ngày 09/5/2024 bà V làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trong thời hiệu, vì vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng qui định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.
[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn đề nghị không tiến hành đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.
[4] Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Lê Văn L; đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Tuấn D; đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Phát Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông L, ông D, ông Đ là phù hợp.
[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 209703 ngày 21/6/1999 cho bà Mai Thị H đối với thửa đất 504, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An là căn cứ Quyết định số 429/QĐ.UB ngày 21/6/1999 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 137 trường hợp tại xã P, trong đó có trường hợp của bà Mai Thị H là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, ban hành quyết định theo quyết định theo Luật Đất đai năm 1993.
[6] Về nội dung của quyết định hành chính: Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 209703 cho bà Mai Thị H đối với thửa đất 504, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An vào ngày 21/6/1999 nhưng thực tế bà Mai Thị H không phải là người quản lý, sử dụng đối với thửa đất này. Bà V là người trực tiếp quản lý sử dụng, trên thửa đất số 504 hiện đang trồng lúa ổn định, lâu dài, không ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, Ủy ban nhân dân huyện B chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không kiểm tra, xem xét hiện trạng thực tế nên cấp sai đối tượng sử dụng. Nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T, ông C và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 504, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An cho bà Mai Thị H là không đúng đối tượng sử dụng đất, là trái với quy định Điều 02, Điều 20, Điều 36, Điều 73, Luật Đất đai năm 1993. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu V là có căn cứ nên được chấp nhận, như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Bà V đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng Hành chính.
Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358, Điều 116, Điều 30, Điều 32, Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Căn cứ Điều 2, Điều 20, Điều 36, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu V.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thu V chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (bà V đã nộp xong).
- Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 209703 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Mai Thị H ngày 21/6/1999 đối với thửa đất 504, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Bà Nguyễn Thu V được quyền đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thanh Nhật – Kiều Thị Kim Dung |
Lương Minh Trí |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 132/2024/HC-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 132/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thu V Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai Ủy ban nhân dân huyện B
