|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HS-ST Ngày 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hà
Ông Đỗ Thế Anh
ảng Phong - Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đặng Khắc Thắng và ông Nguyễn Hồng S - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/HSST-QĐ ngày 05/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1992 tại Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến L và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2023; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 2000 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970, bà Trần Thị V, sinh năm 1972 (là bố mẹ đẻ của chị H); Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; ông D vắng mặt, bà V có mặt.
- + Anh Lê Văn T, sinh năm 1998 (là chồng của chị H)
- + Cháu Lê Hà M, sinh ngày 04/11/2019 (là con đẻ của chị H
Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Hà M: Anh Lê Văn T, sinh năm 1998 (là bố đẻ)
Đều có địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị V: Anh Lê Văn T, sinh năm 1998 (là con rể của ông D bà V); có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH V2; Địa chỉ: Số F Lô A T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn H1 – Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền ông Vũ Xuân K, sinh năm 1993; địa chỉ: T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng – Chức vụ: Quản lý và điều phối xe của Công ty TNHH V2 (Giấy ủy quyền Số 01.2024/UQ ngày 03/7/2024), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 01/2023, Nguyễn Văn Đ có ý định đi lái xe thuê nhưng chưa có giấy phép lái xe nên đã nhờ đối tượng H1 (không rõ lai lịch cụ thể) làm giấy phép lái xe giả, H1 đồng ý. Đ lên mạng internet chụp rõ nội dung mặt trước và mặt sau của giấy phép lái xe hạng FC, sau đó tự chụp ảnh chân dung bằng điện thoại và gửi cho H1 qua ứng dụng Messenger tên “Hùng V1”. Cuối tháng 01/2023, H1 đưa cho Đ 02 tờ giấy A4 in hình chụp mặt trước và mặt sau của giấy phép lái xe giả số 0310222017361 do Sở Giao thông Vận tải Công an thành phố H cấp ngày 01/10/2022 cho Nguyễn Văn Đ sinh ngày 26/3/1992, nơi cư trú: Xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Đông trả tiền công nhưng H1 không lấy. Sau đó Đ dùng giấy phép lái xe giả này để nộp cho Công ty TNHH V2 (Viết tắt là Công ty V2) để xin việc lái xe cho Công ty V2, ông Vũ Xuân K là nhân viên của Công ty V2 đã tiếp nhận hồ sơ của Đ bao gồm sơ yếu lý lịch, giấy khám sức khoẻ, bản sao căn cước công dân, bản sao sổ hộ khẩu, bản in hình chụp mặt trước và mặt sau của giấy phép lái xe giả của Đ. Sau khi kiểm tra hồ sơ và kỹ năng lái xe của Đ, ngày 30/01/2023 Công ty V2 đã ký Hợp đồng lao động với Đ và giao xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13 cho Đ để chở hàng theo lệnh điều động của Công ty V2.
Khoảng hơn 04 giờ ngày 29/3/2023 Đ điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13 trên đường N, chiều từ Quốc lộ A đi phường N, quận H do xe hết nhiên liệu nên Đ di chuyển vào làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ thì đỗ lại trên cầu R tại Km0+600 thuộc xã B, huyện A, Đông bật đèn cảnh báo nhưng không đặt biển hay vật cảnh báo nguy hiểm phía trước và phía sau rồi lên xe đi ngủ. Khoảng hơn 10 giờ cùng ngày chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 2000, trú tại thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79 đã đâm vào phía sau xe sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13. Hậu quả chị H bị thương nặng
được đưa đi cấp cứu đến hơn 13 giờ cùng ngày thì tử vong; xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79 bị hư hỏng. Đến 17 giờ 50 phút cùng này Đ đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định: Nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Km0+600 trên cầu R, đường N, chiều đường xã B, huyện A đi phường N, quận H. Trên đường N một chiều đường được phân thành các làn như sau: Làn thứ nhất sát dải phân cách giữa dành cho xe ô tô; làn thứ hai sát làn thứ nhất dành cho xe ô tô, xe mô tô; làn thứ ba sát làn thứ hai dành cho xe mô tô, xe thô sơ; 01 làn xe khu vực rộng 6,0m ngăn cách với làn đường thứ ba bằng dải phân cách cứng; trước cầu R có cắm biển cấm P.130 “Cấm dừng xe và đỗ xe”. Làn xảy ra vụ tai nạn là làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ. Xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơ mi rơ móoc mang biển kiểm soát 15R-160.13 đỗ tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ tiếp giáp với vỉa hè của cầu R, xe bật đèn cảnh báo. Xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79 được dựng bằng chân chống phụ tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ, đầu xe hướng ra giữa đường chếch về phía K. Lấy mép đường bên phải chiều B đi N làm chuẩn; lấy cột mốc H6/0 đặt tại dải phân cách giữa đường N làm điểm mốc. Trên hiện trường để lại các dấu vết sau: 01 vết phanh dài 11,08m, màu đen, chiều hướng từ B đi N, điểm đầu cách điểm vuông góc với điểm mốc 21,15m, cách mép đường 1,96m, điểm cuối cách điểm vuông góc với điểm mốc 32,25m, cách mép đường chuẩn 1,93m; dấu vết nghi máu kích thước trong diện 0,45m x 0,31m, màu nâu đỏ, điểm gần nhất cách mép đường 2,6m, điểm xa nhất cách mép đường 3,0m; 01 dấu vết cày xước, kích thước 0,04m x 0,02m, không rõ chiều hướng, điểm gần cách điểm vuông góc với điểm mốc 37,6m, cách mép đường chuẩn 2,65m. Đám dấu vết mảnh nhựa vỡ rải rác trong diện kích thước 3,5m x 2,8m, điểm gần nhất cách mép đường chuẩn 1,44m, điểm xa nhất cách mép đường chuẩn 4,2m. Dấu vết cày xước hình cung, dài 0,43m, chiều hướng từ B đi N, điểm đầu cách điểm vuông góc với điểm mốc 36,1m, cách mép đường 3,5m, điểm cuối cách điểm vuông góc với điểm mốc 36,45m, cách mép đường 3,44m.
Khám phương tiện: Xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79, giá kim loại giữ ốp nhựa phía trước cổ xe (mặt nạ) bị xô lệch từ trái qua phải, tại mặt trước góc phía trên bên trái của giá này có đám dấu vết xước bám tạp chất màu trắng dạng sơn, kích thước trong diện 3,7x0,7cm, đám dấu vết có chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải; xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13, tại mặt sau của giá bảo hiểm phía sau bên trái rơmooc có đám dấu vết mài xước mất sơn, kích thước trong diện 38x12cm; trong đó có nhiều vết đặc trưng chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 137/KL-KTHS, ngày 12/4/2023 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Chị H bị gãy di lệch xương cột sống cổ đốt 4, 5; dập gãy xương cằm, gãy răng số 1, 2 hàm trên; dập gãy đầu trên xương ức và một số xương sườn hai bên. Kết quả xét nghiệm cồn trong máu: Không có. Nguyên nhân chết: Sốc do đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định số 131/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Dấu vết trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu xanh và màu trắng (dạng sơn) ở mặt trước giá kim loại bắt mặt nạ (được hàn gắn phía trước cổ xe) và đai kim loại cố định cụm dây điện đầu xe trên xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79, phù hợp với dấu vết cong gập biến dạng kim loại theo chiều từ sau về trước, bề mặt phía ngoài bị trượt xước mất sơn (màu xanh và màu trắng), bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) ở mặt sau cản sau bên trái (bên lái) sơmi rơmoóc mang biển kiểm soát 15R-160.13, kéo phía sau xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38.
Kết luận giám định số 2867/KL-VKHHS-BCA ngày 19/5/2023 của V3 Bộ C1, kết luận: Tại thời điểm ngay trước và trong khi xảy ra tai nạn, hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 15R-160.13 còn tác dụng, đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Kết quả đo nồng độ cồn của Nguyễn Văn Đ vào 19 giờ 45 phút ngày 29/3/2023 là 0,000mg/1 khí thở; xét nghiệm âm tính với chất ma tuý vào 22 giờ 40 phút cùng ngày.
Tại Cáo trạng số 105/CT-VKS-AD ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Bị cáo làm phụ xe tại Công ty V2 trước ngày ký Hợp đồng lao động khoảng hai tháng, Công ty V2 trực tiếp là ông Vũ Xuân K đã kiểm tra kỹ năng lái xe của bị cáo, sau đó mới ký hợp đồng lao động với bị cáo và giao cho bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận. Bị cáo đồng ý nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại và cấp dưỡng nuôi con của bị hại như anh T yêu cầu. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên bị cáo mới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000đồng và số tiền đã bồi thường này bị cáo không yêu cầu trừ vào số tiền mà anh T yêu cầu.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, của cháu Lê Trà M1, của ông D, của bà V là anh Lê Văn T: Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật và xem xét trách nhiệm bồi thường của Công ty V2 khi giao xe ô tô cho bị cáo sử dụng; anh T yêu cầu bị cáo và Công ty V2 phải liên đới bồi thường thiệt hại gồm chi phí cấp cứu chị H, chi phí mai táng, chi phí sửa xe, tổn thất tinh thần với số tiền là 135.000.000đồng, tiền cấp dưỡng để anh nuôi cháu Lê Hà M theo mức lương cơ sở hiện nay là 2.340.000đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/7/2024 đến khi cháu Lê Hà M đủ 18 tuổi, cụ thể anh T yêu cầu bị cáo và Công ty V2 mỗi bên bồi thường ½ thiệt hại là 67.500.000 đồng và ½ số tiền cấp dưỡng là 1.170.000đồng/tháng.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung từ 48 tháng đến 57 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 589, 591, 593, 591, 597 và 601 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ và Công ty V2 phải liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 135.000.000đồng và cấp dưỡng cho anh T nuôi cháu Lê Hà M số tiền là 2.340.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2024 cho đến khi cháu Lê Hà M đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Số tiền bồi thường và cấp dưỡng nêu trên bị cáo và Công ty V2 mỗi bên bồi thường và cấp dưỡng ½ như quan điểm của anh T tại phiên tòa. Trường hợp Công ty V2 đã bồi thường thiệt hại, cấp dưỡng thì có quyền yêu cầu bị cáo phải hoàn trả khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, Công ty V2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, các kết luận giám định, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn Đ không có giấy phép lái xe ô tô hạng FC theo quy định nên đã nhờ người khác làm giả giấy phép lái xe ô tô hạng FC để đủ điều kiện ký hợp đồng lái
xe thuê cho Công ty V2. Bị cáo đã dùng bản phô tô giấy phép lái xe giả hạng FC số [...] do Công an thành phố H cấp ngày 01/10/2022 để xin việc tại Công ty V2. Ngày 29/3/2023, Đ điều khiển xe tô tô biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13 từ Hưng Yên về Hải Phòng đến đoạn đường N thuộc địa phận xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng do xe hết dầu nên bị cáo dừng xe tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ trên cầu R tại Km 0+600 đường N theo hướng từ xã B, huyện A đi phường N, quận H nhưng bị cáo không đặt cảnh bảo nguy hiểm phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết, đến khoảng 10 giờ cùng ngày chị Nguyễn Thị Minh H điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79 đâm vào phía sau sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13. Hậu quả chị H bị thương nặng, sau đó cùng ngày thì tử vong. Hành vi dừng xe trên đường bộ không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết, hành vi dừng xe trên cầu của bị cáo như trên đã vi phạm điểm d khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 18 của Luật Giao thông đường bộ, bản thân bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định và hành vi vi phạm của bị cáo dẫn đến hậu quả làm 01 người chết nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Hành vi bị cáo đã sử dụng giấy phép lái xe ô tô hạng FC giả số [...] do Công an thành phố H cấp ngày 01/10/2022 đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 314 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về lỗi: Trong vụ án này, lỗi thuộc về bị cáo, bị cáo điều khiển xe ô tô hạng FC nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ khi tham gia giao thông dừng xe không đúng nơi quy định, không đặt biển cảnh báo nguy hiểm phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, gây tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông và xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú nên bị cáo được hưởng các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nhưng liền lúc bị cáo phạm hai tội do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dụng bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo bị xét xử cùng lúc về hai tội nên cần tổng hợp hình phạt của hai
tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cao bồi thường 120.000.000đồng, nhưng tại giai đoạn xét xử yêu cầu bị cáo và Công ty V2 liên đới bồi thường thiệt hại với số tiền là 135.000.000đồng (gồm tiền sửa xe, tiền cấp cứu bị hại, chi mai táng và tổn thất tinh thần) và cấp dưỡng nuôi cháu Lê Hà M theo mức lương cơ sở với số tiền là 2.340.000đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/7/2024 cho đến khi cháu Lê Hà M đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại và cấp dưỡng cho đại diện hợp pháp của bị hại. Công ty V2 có lời khai không đồng ý với yêu cầu của anh Lê Văn T với lý do trong Hợp đồng lao động đã có thỏa thuận khi xẩy ra tai nại thì người lái xe phải chịu bồi thường toàn bộ thiệt hại nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại là của bị cáo.
[6.1] Xét Công ty V2 là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ, là doanh nghiệp kinh doanh vận tải, bị cáo được giao xe ô tô theo lệnh điều động của Công ty hàng ngày. Như vậy, xe ô tô do bị cáo điểu khiển vẫn thuộc quyền chiếm hữu sử dụng của Công ty V2, việc bị cáo được giao xe ô tô là để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty V2 và theo quy định tại Điều 601 của Bộ luật Dân sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong hợp đồng lao động bị cáo và Công ty V2 thỏa thuận khi xẩy ra tai nạn bị cáo là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng thỏa thuận này không đảm bảo các nguyên tắc về bồi thường thiệt hại. Mặt khác, theo quy định tại Điều 597 Bộ luật Dân sự thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người người của pháp nhân gây ra khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Bị cáo là người lao động của Công ty V2, khi gây ra tai nạn bị cáo đang thực hiện nhiệm vụ do Công ty V2 giao, do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này thuộc về Công ty V2. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Lê Văn T yêu cầu bị cáo và Công ty V2 liên đới bồi thường và cụ thể mỗi bên phải bồi thường ½ thiệt hại, ½ tiền cấp dưỡng là sự tự nguyện của anh T, bị cáo cũng đồng ý với yêu cầu của anh Lê Văn T nên buộc bị cáo và Công ty V2 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại và cấp dưỡng như yêu cầu của anh T.
[6.2] Về số tiền bồi thường thiệt hại: Tổng số tiền anh Lê Văn T yêu cầu bồi thường thiệt hại là 135.000.000 đồng, trong đó tiền viện phí 7.828.652 đồng, chi phí sửa xe 18.594.000đồng, chi phí tổ chức tang lễ 52.740.000đồng và số tiền còn lại 55.837.348 đồng là tiền tổn thất tinh thần. Xét trong số các khoản tiền liên quan đến chi phí viện phí cấp cứu chị H tại bệnh viện, chi phí mai táng cho chị H và chi phí sửa chưa xe mô tô của chị H là phù hợp với một số hóa đơn, chứng từ anh T cung cấp và phù hợp với thực tế nên chấp nhận yêu cầu của anh T về các khoản chi phí này. Đối với khoản tiền tổn thất tinh thần, bị hại chị Nguyễn Thị Kim H2 chết đã gây nên sự mất mát lớn đối với gia đình bị hại trong đó có bố mẹ đẻ, con chưa
thành niên và chồng. Theo quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự mức tổn thất tinh thần tối đa là 100 lần mức lương cơ sở, số tiền tổn thất tinh thần anh T yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[6.3] Về tiền cấp dưỡng: Theo quy tại khoản 3 Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người gây thiệt hại còn phải cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống, mức cấp dưỡng không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng và thời điểm cấp dưỡng được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm về sức khỏe. Khi còn sống chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng con chung với anh T là cháy Lê Hà M, sinh ngày 04/11/2019, do vậy yêu cầu cấp dưỡng của để nuôi cháu Lê Hà M là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa anh T yêu cầu mức cấp dưỡng tính theo mức lương cơ sở là 2.340.000đồng/tháng và thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/7/2024 cho đến khi cháu Lê Hà M đủ 18 tuổi là sự tự nguyện của anh T và có lợi cho bị cáo cũng như Công ty V2 nên chấp nhận. Anh Lê Văn T yêu cầu bị cáo và Công ty V2 liên đới bồi thường và cụ thể yêu cầu mỗi bên bồi thường ½ số tiền thiệt hại 135.000.000đồng và cấp dưỡng ½ số tiền 2.340.000đồng. Do vậy, buộc bị cáo và Công ty V2 mỗi bên bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 67.500.000đồng và buộc bị cáo và Công ty V2 mỗi bên cấp dưỡng cho anh T nuôi cháu Lê Hàng M2 số tiền là 1.170.000đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/7/2024 cho đến khi cháu Lê Hà M đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp Công ty V2 đã bồi thường thiệt hại, cấp dưỡng thì có quyền yêu cầu bị cáo phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. Số tiền bị cáo đã bồi thường là 10.000.000đồng, bị cáo không yêu cầu trừ vào số tiền phải bồi thường nên không xét. Số tiền 10.000.000 đồng Công ty V2 đã hỗ trợ cho bị hại theo quan điểm của Công ty V2 là tiền hỗ trợ không phải nghĩa vụ bồi thường nên không trừ vào trách nhiệm bồi thường của Công ty V2.
[7] Về các vấn đề khác: Xe ô tô biển kiểm soát 15R-160.13 của Công ty V2 có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc, tuy nhiên Tổng Công ty Cổ phần B có văn bản trả lời không nhận được bất kỳ thôn tin nào về vụ tổn thất cũng như yêu cầu bồi thường từ người được bảo hiểm. Những người tham gia tố tụng trong vụ án và Công ty B1 không có yêu cầu liên quan đến tiền bảo hiểm nên không xem xét, nếu có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Đối với 01 xe ô tô mang biển kiểm soát 15H-054.38 kéo sơmi rơmooc mang biển kiểm soát 15R-160.13 cùng các giấy tờ, tài liệu liên quan đến phương tiện, Cơ quan điều tra đã trả cho Công ty V2; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 15D1-365.79 trả cho đại diện bị hại; 01 bản in hình chụp mặt trước giấy phép lái xe giả của Nguyễn Văn Đ là tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm và Công ty V2 phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo,
người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm các tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (C) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 51 (Năm mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 589, 591, 593, 591, 597 và 601 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ và Công ty V2 liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 135.000.000đồng và cấp dưỡng nuôi cháu Lê Hà M số tiền 2.340.000đồng/tháng, cụ thể: Bị cáo và Công ty V2 mỗi bên bồi thường cho anh Lê Văn T, ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị V và cháu Lê Hà M số tiền là 67.500.000 đồng; bị cáo và Công ty V2 mỗi bên cấp dưỡng cho anh Lê Văn T nuôi cháu Lê Hà M số tiền là 1.170.000đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/7/2024 cho đến khi cháu Lê Hà M đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp Công ty V2 đã bồi thường thiệt hại, cấp dưỡng cho đại diện hợp pháp của bị hại, cho anh Lê Văn T thì có quyền yêu cầu bị cáo phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Đối với khoản tiền phải bồi thường, cấp dưỡng nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.375.000đồng án phí dân sự sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng, tổng
số tiền án phí bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp là 3.725.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước; buộc Công ty V2 phải nộp án phí dân sự là 3.375.000đồng và án phí cấp dưỡng là 150.000đồng, tổng số tiền án phí Công ty V2 phải nộp là 3.525.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo về nghĩa vụ bồi thường, cấp dưỡng trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đông
