TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HSST Ngày: 29-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Đức Trường Kháng
- 2. Bà Nguyễn Thị Nhung
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị P- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Ngô Văn Q ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1980
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở hiện nay: Số C, đường A, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không;
Con ông: Ngô Văn T (đã chết); Con bà: Lê Thị K, sinh năm 1954; Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với chị Trần Thị Hồng V, sinh năm 1977, có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 25/12/2006, Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định khởi tố bị can đối vưới Ngô Văn Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1, Anh Trần Văn G, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
Chỗ ở hiện nay: Tổ 01, khối 01, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
2, Chị Dương Thị H, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Tam Trạch, xã Trung Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
3, Anh Ngô Văn Quang C (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Người làm chứng:
Ông Trần Thái H1, sinh năm 1958 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 21/7/2006, Ngô Văn Q đi từ nhà lên thành phố T chơi. Sau đó, Q thuê phòng nghỉ trọ của nhà ông Trần Thái H1, sinh năm 1958, trú tại tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Đến ngày 22/7/2006, có anh Hoàng Văn M, sinh năm 1986 và anh Trần Văn G, sinh năm 1984, cùng trú tại Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đi xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu xanh, BKS 89H2-2598 đến nhà ông H1 thuê trọ ở phòng bên cạnh phòng Q. Quá trình thuê trọ, Q cùng anh M và anh G nhiều lần uống rượu với nhau. Đến khoảng 17 giờ ngày 24/7/2006, Q cùng anh M và anh G đi chơi. Sau khi về đến cửa dãy phòng trọ, anh G đi vào phòng trước, anh M tiếp tục đều khiển xe mô tô BKS 89H2-2598 đưa Q đi uống nước tại khu vực ga Đ thuộc tổ B, phường Q, thành phố T. Trong khi uống nước, Q hỏi mượn anh M xe mô tô BKS 89H2-2598 để đi đón bạn. Anh M đồng ý và giao xe cho Q, Q điều khiển xe mô tô mượn được của anh M đi đón bạn rồi đi chơi, đến khi không còn tiền tiêu xài, Q nảy sinh ý định mang xe mô tô trên đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Q đã bán xe mô tô BKS 89H2-2598 cho một người đàn ông không quen biết ở khu vực cổng bến xe khách T với giá 1.000.000 đồng. Chờ mãi không thấy Q trả xe nên anh M về phòng trọ kể với anh G rồi đi trình báo Cơ quan Công an. Sau khi chiếm đoạt xe mô tô BKS 89H2-2598, Q đã bỏ trốn khỏi địa phương để trốn tránh trách nhiệm và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định truy nã. Đến ngày 25/01/2024, Ngô Văn Q bị Cơ quan Canh sát điều tra Công an tỉnh T bắt giữ khi đang trốn tại phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh và lập biên bản bắt người đang bị truy nã đối với Q theo quy định.
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng do Ngô Văn Q tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại.
Tại biên bản về việc xác định giá trị tài sản ngày 07/5/2007 của Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên và Phòng tài chính kế hoạch - Ủy ban nhân dân thành phố T; Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel BKS 89H2-2598, số máy VA231428, số khung D4H314528 (giám định bằng hồ sơ) vào thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.000.000 đồng.
Tai Cơ quan điều tra, Ngô Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi của mình như đã nêu trên.
Bị hại anh Hoàng Văn M khai: Ngày 22/7/2006 anh cùng Trần Văn G lên thành phố T chơi và trọ nhà ông H1, tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây anh và G có quen biết anh Ngô Văn Q, ngày 24/7/2006, anh có sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel BKS 89H2-2598 là xe của anh G chở Q đi chơi, sau đó Q mượn xe bảo đi có việc một tí nhưng không thấy anh Q quay lại trả xe nên anh và anh G đi trình báo công an. Do chiếc xe mô tô BKS 89H2-2598 anh cho Q mượn là của anh G nên anh đã bồi thường cho anh G 3.000.000 đồng, đến nay anh không yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn G khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel BKS 89H2-2598 là xe của anh (đăng ký mang tên vợ anh là Dương Thị H), ngày 24/7/2006 anh cho anh M mượn, sau đó anh M cho Ngô Văn Q mượn và anh Q đã chiếm đoạt chiếc xe mô tô này của anh, nay anh yêu cầu Ngô Văn Q bồi thường cho anh 10.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án gồm: 07 lá thư nội dung viết gửi cho Q; 03 bì thư ghi tên nguời nhận Ngô Thành Q1, địa chỉ hòm thư 2NA-441 Thái Nguyên và xóm T, Đ, H, Bắc Giang; 04 ảnh thẻ cỡ 4x6cm và 01 ảnh thẻ cỡ 3x4cm; 03 ảnh cỡ 15x10cm; 01 ảnh cỡ 8,5x10,5cm (được lưu giữ kèm theo hồ sơ); 01 cặp số màu đen, đã qua sử dụng; 01 quyển sổ bìa cứng màu đen có chữ Classica MPK5 đã qua sử dụng; 01 chìa khóa loại Việt Tiệp và 01 chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda; 01 chìa khóa càng xe máy nhãn hiệu VN (M.S); 01 áo dài tay màu trắng, cổ áo có chữ BOTH CAVARY BC.POLO; 01 áo kẻ sọc đen trắng dài tay nhãn hiệu Yong Xing; 01 áo phông cổ tròn màu trắng xanh tím than; 01 áo kẻ ô vuông sọc trắng đen, nền đỏ, không có nhãn hiệu; 01 quần đùi màu xanh tím than, không có nhãn hiệu; 01 quần bò cũ màu xanh, nhãn hiệu Tony Fa; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu RADO(R) Diastar Swiss -11479304 Hinh - Tech Watter Scaled 68520753, đã qua sử dụng; 01 sim điện thoai và 01 phong bì niêm phong mang tên Trần Thái H1(do ông Trần Thái H1 tự giao nộp). Số tiền 6.000.000 đồng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 116/CT-VKSTPTN, ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Ngô Văn Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về trách nhiệm dân sự mặc dù bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh M 3 triệu đồng và anh G số tiền 4 triệu đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn G: Anh quen biết bị cáo Q từ năm 2006 khi anh cùng M lên Thái Nguyên chơi và trọ cùng Q, do tin tưởng M và Q nên anh cho M và Q mượn chiếc xe mô tô BKS BKS 89H2-2598, nhãn hiệu Angel đi chơi, chiếc xe này là của anh (đăng ký xe mang tên vợ anh Dương Thị H). Sau đó M cho Q mượn xe, Q đã chiếm đoạt không trả lại. Khi sự việc xảy ra anh M có bồi thường cho anh 3 triệu đồng, nay anh không yêu cầu M và bị cáo bồi thường gì thêm.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 116/CT-VKSTPTN, ngày 22/4/2024 đối với bị cáo Ngô Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm b,s,h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Ngô Văn Q mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Hoàng Văn M số tiền 3.000.000 đồng và bồi thường cho anh G số tiền 4.000.000 đồng. Được trừ vào số tiền 7.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên hiện đang lưu giữ tại tài khoản chi cục thi hành dân sự thành phố T.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 cặp số màu đen, đã qua sử dụng; 01 quyển sổ bìa cứng màu đen có chữ Classica MPK5 đã qua sử dụng; 01 chìa khóa loại Việt Tiệp và 01 chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda; 01 chìa khóa càng xe máy nhãn hiệu VN (M.S); 01 áo dài tay màu trắng, cổ áo có chữ BOTH CAVARY BC.POLO; 01 áo kẻ sọc đen trắng dài tay nhãn hiệu Yong Xing; 01 áo phông cổ tròn màu trắng xanh tím than; 01 áo kẻ ô vuông sọc trắng đen, nền đỏ, không có nhãn hiệu; 01 quần đùi màu xanh tím than, không có nhãn hiệu; 01 quần bò cũ màu xanh, nhãn hiệu Tony Fa; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu RADO(R) Diastar Swiss -11479304 Hinh - Tech Watter Scaled 68520753, đã qua sử dụng; 01 sim điện thoại và 01 phong bì niêm phong mang tên Trần Thái H1. Số tiền 200.000 đồng còn lại theo biên lai thu tiền ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, Bị cáo và anh Trần Văn G không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hồi 23 giờ ngày 24/7/2006, tại Tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Lợi dụng sự tin tưởng của anh Hoàng Văn M, Ngô Văn Q có mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL BKS 89H2-2598 (xe của anh Trần Văn G, sinh năm 1984, trú tại Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, khi Q mượn M, M là người trực tiếp quản lý, sử dụng). Sau khi mượn được xe Q đã bán lấy tiền tiêu sài hết rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản xác định chiếc xe mô tô BKS 89H2-2598 đăng ký tháng 9/2004, tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 7 triệu đồng.
Hành vi của Ngô Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bản cáo trạng số 116/CT-VKSTPTN ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm:
a,...Mượn...tài sản của người khác rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra, tại cơ quan điều tra do bị cáo không thể thỏa thuận việc bồi thường trách nhiệm dân sự đối với bị hại nên bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 6.000.000 đồng cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố T để khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại và trước khi mở phiên tòa người nhà bị cáo là anh Ngô Văn Quang C đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án thành phố Thái Nguyên số tiền 1.200.000 đồng để khắc phục thiệt hại cho bị hại và nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt sớm trở về với xã hội.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Theo kết luận định giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL BKS 89H2-2598 bị chiếm đoạt có trị giá 7.000.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra anh Hoàng Văn M đã bồi thường cho anh Trần Văn G số tiền 3.000.000 đồng và anh G không yêu cầu anh M bồi thường gì thêm, quá trình điều tra anh M không yêu cầu bị cáo bồi thường, tại phiên tòa anh G không đề nghị bị cáo bồi thường nhưng bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh M và anh G giá trị chiếc xe bị cáo đã chiếm đoạt nên căn cứ vào điều 584, 585 Bộ luật dân sự ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho anh Hoàng Văn M số tiền 3.000.000 đồng và bồi thường cho anh G số tiền 4.000.000 đồng. Được đối trừ số tiền 1.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000659 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên và 6.000.000 đồng trong tài khoản chi cục thi hành án theo ủy nhiệm chi ngày 14/05/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án thành phố Thái Nguyên. Như vậy, bị cáo đã bồi thường xong.
[7]. Đối với số tiền 1.200.000 đồng anh Ngô Văn Q C là em trai bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, là do bị cáo nhờ anh nộp và anh tự nguyện nộp cho bị cáo để khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định, anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[8]. Vật chứng vụ án:
Số vật chứng do Ngô Văn Q để lại phòng trọ của nhà ông Trần Thái H1, ông Trần Thái H1 giao nộp gồm: 07 lá thư nội dung viết gửi cho Q; 03 bì thư ghi tên nguời nhận Ngô Thành Q1, địa chỉ hòm thư 2NA-441 Thái Nguyên và xóm T, Đ, H, Bắc Giang; 04 ảnh thẻ cỡ 4x6cm và 01 ảnh thẻ cỡ 3x4cm; 03 ảnh cỡ 15x10cm; 01 ảnh cỡ 8,5x10,5cm, được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
Đối với số vật chứng: 01 cặp số màu đen, đã qua sử dụng; 01 quyển sổ bìa cứng màu đen có chữ Classica MPK5 đã qua sử dụng; 01 chìa khóa loại Việt Tiệp và 01 chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda; 01 chìa khóa càng xe máy nhãn hiệu VN (M.S); 01 áo dài tay màu trắng, cổ áo có chữ BOTH CAVARY BC.POLO; 01 áo kẻ sọc đen trắng dài tay nhãn hiệu Yong Xing; 01 áo phông cổ tròn màu trắng xanh tím than; 01 áo kẻ ô vuông sọc trắng đen, nền đỏ, không có nhãn hiệu; 01 quần đùi màu xanh tím than, không có nhãn hiệu; 01 quần bò cũ màu xanh, nhãn hiệu Tony Fa; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu RADO(R) Diastar Swiss -11479304 Hinh - Tech Watter Scaled 68520753, đã qua sử dụng; 01 sim điện thoại và 01 phong bì niêm phong mang tên Trần Thái H1. Tại phiên tòa bị cáo xác định đây là tài sản của bị cáo để lại phòng trọ sau khi chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của anh M, đến nay những vật chứng này không cò giá trị sử dụng do thời gian đã lâu nên bị cáo đề nghị HĐXX tiêu hủy. Do đó, HĐXX thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.
Số tiền còn lại là 200.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000659 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Văn Q 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ điều 584, 585 Bộ luật dân sự 2015, Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho anh Hoàng Văn M số tiền 3.000.000 đồng và bồi thường cho anh G số tiền 4.000.000 đồng. Được đối trừ số tiền 1.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000659 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên và 6.000.000 đồng trong tài khoản Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo ủy nhiệm chi ngày 14/05/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án thành phố Thái Nguyên. Bị cáo đã bồi thường xong.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tạm giữ 200.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000659 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cặp số màu đen, đã qua sử dụng; 01 quyển sổ bìa cứng màu đen có chữ Classica MPK5 đã qua sử dụng; 01 chìa khóa loại Việt Tiệp và 01 chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda; 01 chìa khóa càng xe máy nhãn hiệu VN (M.S); 01 áo dài tay màu trắng, cổ áo có chữ BOTH CAVARY BC.POLO; 01 áo kẻ sọc đen trắng dài tay nhãn hiệu Yong Xing; 01 áo phông cổ tròn màu trắng xanh tím than; 01 áo kẻ ô vuông sọc trắng đen, nền đỏ, không có nhãn hiệu; 01 quần đùi màu xanh tím than, không có nhãn hiệu; 01 quần bò cũ màu xanh, nhãn hiệu Tony Fa; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu RADO(R) Diastar Swiss -11479304 Hinh - Tech Watter Scaled 68520753, đã qua sử dụng; 01 sim điện thoại và 01 phong bì niêm phong mang tên Trần Thái H1.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 160 ngày 16/05/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
5. Án phí:
Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Văn Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
6. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Trần Văn G, anh Ngô Văn Quang C) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (anh Hoàng Văn M), Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Dương Thị H) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |
Bản án số 131/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 131/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 6 tháng tù
