|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HS-ST Ngày: 28-10-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hiếu.
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Giáp Văn Phẩm.
- Ông Vũ Ngọc Côn.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vĩnh, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 134/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1996, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Quê quán: Xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X và bà Hoàng Thị K; Có vợ là Dương Thị Thu H và 02 con;
Tiền án: Tại Bản án số 11/2020/HS-PT ngày 05/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. D chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/08/2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Anh Lãnh Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Thân Văn P, sinh năm 1981 (vắng mặt).
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1972 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ sáng ngày 27/7/2024, Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu sơn đen-xanh, biển kiểm soát 98 E1-549.57 của ông Nguyễn Văn X (là bố đẻ của D) đi đến xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang chơi. Khi đi đến thôn P, xã B, huyện L, D phát hiện tại khu vực kho xưởng Hiền P của anh Thân Văn P, (được giao cho anh Lãnh Văn T quản lý) có 06 (sáu) thanh sắt mạ kẽm, hình hộp, trong đó: 04 thanh loại (50x50x1,4)mm có chiều dài lần lượt là 218cm, 220cm, 228cm và 232cm, các thanh đều có 01 vết hàn ở giữa; 02 thanh loại (40x40x1,1)mm có chiều dài lần lượt là 205cm, 234cm, mỗi thanh đều có vết hàn ở giữa, được để sát với tường nhà hàng xóm nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Quan sát xung quanh không có ai, D xuống xe lấy 06 (sáu) thanh sắt cho lên ga xe máy. Khi chuẩn bị lên xe đi, D lại phát hiện thấy ở khu vực kho hàng có 01 (một) cửa bằng kim loại sắt mạ kẽm, kích thước (210x180)cm, gắn lưới sắt B40 (dạng lưới mắt cáo), khung cửa được làm bằng các thanh kim loại sắt mạ kẽm hình hộp loại (40x20x1,1)mm và có một thanh ở giữa gắn dọc từ trên xuống; chân cửa gắn 02 khung sắt mạ kẽm hình tam giác ở hai đầu, dưới chân mỗi khung tam giác gắn 02 bánh lăn, D bê chiếc cửa kim loại đặt lên ga xe mô tô. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở tài sản đã trộm cắp được đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Lê Thị N bán được số tiền là 375.000 đồng. Số tiền trên D đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 31/7/2024, anh Lãnh Văn T đã có đơn trình báo gửi Công an huyện L. Hồi 09 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn D đến Công an xã B, huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, không gắn biển kiểm soát, số khung RLHJA3813GY067882, số máy JA38E0155401. Ngày 31/7/2024, Công an xã B chuyển hồ sơ và bàn giao Nguyễn Văn D cho Cơ quan CSĐT Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày bà Lê Thị N giao nộp cho Cơ quan điều tra 06 (sáu) thanh sắt mạ kẽm, 01 (một) cửa bằng kim loại sắt mạ kẽm có gắn lưới sắt B40 (dạng lưới mắt cáo).
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 31/7/2014 đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản. Tại Biên bản làm việc cùng ngày 31/7/2024 xác định nơi Dương bán tài sản trộm cắp là cơ sở thu mua phế liệu của bà Lê Thị N.
Tại Kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 cửa được làm bằng kim loại, kích thước (210x180)cm, tổng trọng lượng 26kg. Khung cửa được làm bằng các thanh kim loại sắt mạ kẽm hình hộp loại (40x20x1,1)mm và có một thanh ở giữa gắn dọc từ trên xuống; cửa được gắn lưới sắt B40 hình mắt cáo; chân cửa gắn 02 khung sắt mạ kẽm hình tam giác ở hai đầu, dưới chân mỗi khung tam giác gắn 02 bánh lăn, trị giá 1.375.000 đồng; 06 thanh kim loại sắt mạ kẽm hình hộp, có tổng trọng lượng là 24kg, trong đó: 04 thanh loại (50x50x1,4)mm có chiều dài lần lượt là 218cm, 220cm, 228cm và 232cm, các thanh đều có 01 vết hàn ở giữa; 02 thanh loại (40x40x1,1)mm có chiều dài lần lượt là 205cm, 234cm, mỗi thanh đều có vết hàn ở giữa, có tổng trị giá 216.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.591.000 đồng.
Tại Biên bản nhận dạng ngày 26/8/2024, tiến hành cho bà Lê Thị N nhận dạng người đã mang 06 thanh kim loại và 01 cửa kim loại đến bán vào ngày 27/7/2024. Kết quả Bà N xác định người trong ảnh số 4 (tức Nguyễn Văn D) là người đã đến bán cho bà số tài sản trên.
Ngày 10/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 01 đoạn video ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản, có thời lượng 04 phút 09 giây, thời gian từ 02 giờ 27 phút 51 giây đến 02 giờ 32 phút 00 giây ngày 27/7/2024, tại camera an ninh gắn ở kho vật liệu của anh Thân Văn Phan . Đoạn video được sao lưu vào đĩa CD. Ngày 18/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho D xem video nêu trên. D khẳng định người đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong video chính là mình.
Đối với bà Lê Thị N là người mua 06 thanh sắt hộp mạ kẽm và 01 cửa kim loại do D mang đến bán. Quá trình điều tra xác định khi mua số tài sản trên, bà N không biết đó là tài sản D trộm cắp mà có. Đối với ông Nguyễn Văn X không biết việc D lấy xe mô tô đi trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối bà N và ông X.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 19/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Lãnh Văn T: 01 cửa kim loại, kích thước (210x180)cm, tổng trọng lượng 26kg và 06 thanh kim loại sắt mạ kẽm, hình hộp, có trọng lượng 24kg. Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu sơn đen xanh, biển kiểm soát 98E1-549.57 cho ông Nguyễn Văn X.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì. Đối với số tiền 375.000 đồng bà Lê Thị N bỏ ra để mua số tài sản D trộm cắp, bà N không yêu cầu Nguyễn Văn D phải trả lại.
* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn D từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 31/7/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị về án phí.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ sáng ngày 27/7/2024, tại kho xưởng Hiền P của anh Lãnh Văn T ở thôn P, xã B, huyện L, Nguyễn Văn D đã thực hiện hành vi trộm cắp 06 (sáu) thanh sắt mạ kẽm và 01 (một) cửa bằng kim loại sắt, mạ kẽm, có gắn lưới sắt B40 (dạng lưới mắt cáo), có tổng giá trị 1.591.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản, D đã mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết. Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về các tội “Cướp giật tài sản” và tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.
[8] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[9] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản đáng giá nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[10] Về những vấn đề khác: Đối với bà Lê Thị N là người mua 06 thanh sắt hộp mạ kẽm và 01 cửa kim loại do D mang đến bán nhưng bà N không biết đó là tài sản D trộm cắp mà có. Đối với ông Nguyễn Văn X không biết việc D lấy xe mô tô đi trộm cắp tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử thấy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà N, ông X là có căn cứ.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì. Bà Lê Thị N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 375.000 đồng mà bà bỏ ra để mua số tài sản mà D trộm cắp. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[12] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cửa kim loại, kích thước (210x180)cm, tổng trọng lượng 26kg và 06 thanh kim loại sắt mạ kẽm, hình hộp, có trọng lượng 24kg của anh Lãnh Văn T và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu sơn đen xanh, biển kiểm soát 98E1-549.57 của ông Nguyễn Văn X. Hội đồng xét xử thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại những vật chứng trên cho các chủ sở hữu là có căn cứ.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 31/7/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 01 giờ sáng ngày 27/7/2024, tại kho xưởng Hiền P của anh Lãnh Văn T ở thôn P, xã B, huyện L, Nguyễn Văn D đã thực hiện hành vi trộm cắp 06 (sáu) thanh sắt mạ kẽm và 01 (một) cửa bằng kim loại sắt, mạ kẽm, có gắn lưới sắt B40 (dạng lưới mắt cáo), có tổng giá trị 1.591.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản, D đã mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết.
