TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số 131/2024/DS - PT Ngày 28/8/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quế.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Nhài và ông Hoàng Văn Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 23 và ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2023/TLPT - DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản dân sự sơ thẩm số: 34/2023/DS - ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11/QĐPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Ông Tô Công B, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: Xóm S, xã Q, thành phố T.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1;
Địa chỉ: Tổ E, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. UBND thành phố T.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn L - Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố T.
Địa chỉ: Số A, đường N, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
- 3.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (Vợ ông T);
Địa chỉ: Xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
- 3.1. UBND thành phố T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Tô Công B trình bày: Năm 2004 ông có mua 01 diện tích đất của ông Nguyễn Văn T. Khi mua bán các bên có làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định; diện tích đất ông T bán cho ông là 142m² đất thổ cư tại thửa 410, Tờ bản đồ số 9, diện tích đất tại xóm S, xã Q, thành phố T với giá là 15.000.000đ. Ông đã trả đủ tiền và đã được ông T và gia đình giao đất theo từng vị trí cụ thể. Các bên có ký nhận vào hợp đồng chuyển nhượng. Đến tháng 01/2005 ông đã được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định với diện tích đất thổ cư là 142m² tại thửa đất số 575, tờ bản đồ số 9 (thửa 575 được tách ra bởi thửa 410 của gia đình ông T).
Tại thời điểm mua bán chuyển nhượng thì ông T có chỉ rõ vị trí bán và chuyển nhượng đất cho ông. Cụ thể: phía Bắc giáp đất ông T, phía Nam giáp cánh đồng lúa, phía tây giáp đất ông bà Đ và phía Đông giáp nhà ông T. Quá trình sử dụng đất ông chưa có nhu cầu lên chưa xây dựng gì trên diện tích đất mua bán với ông T. Ông T đã tự ý xây dựng 01 nhà tạm trên 1 phần diện tích của ông khoảng năm 2006. Ông đã nhắc nhở ông T, nhưng ông T chỉ xây tạm và có bảo khi nào gia đình ông cần sử dụng thì sẽ tháo rỡ trả đất cho ông.
Nay do nhu cầu cần sử dụng diện tích đất trên ông yêu ông T trả lại đất thì ông T không trả. Ông đã yêu cầu chính quyền hòa giải nhưng không thành và khởi kiện buộc ông T phải trả lại diện tích đất cho ông là 142m² đất thổ cư mà ông đã được UBND thành phố T cấp quyền sử dụng đất năm 2005. Ông không nhất trí yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận QSD đất của ông.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T và người đại diện theo uỷ quyền của ông T trình bày: Về nguồn gốc đất năm 2002 ông T mua của bà Nguyễn Thanh T2, địa chỉ: Xóm S, xã Q, TP . thửa đất số 194, tờ bản đồ số 24 (Bản đồ 299) Bà T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/11/1994. Sau khi mua ông T đã được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/8/2002 là thửa 410 tờ bản đồ số 9 (bản đồ địa chính) diện tích 2.712m² đất thổ cư. Năm 2004, ông T thỏa thuận bán cho vợ chồng ông Tô Công B và chị Trần Thị N 90m2 đất thổ cư giáp nhà ông Mai Văn Đ thuộc thửa 410 mà ông T đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Ban đầu hai bên thỏa thuận để bà N đứng tên diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông và ông sẽ chịu trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích hai bên mua bán mang tên bà N, nhưng sau đó ông B không đồng ý và yêu cầu phải sang tên ông B và ông B sẽ là người làm thủ tục. Do là anh em nên ông tin tưởng giao hồ sơ để ông B làm thủ tục tách diện tích đất ông đã bán cho ông B. Lợi dụng sự tin tưởng của ông, ông B đã làm lại hợp đồng chuyển nhượng và đưa cho vợ chồng ông ký để ông B làm thủ tục sang tên. Vợ chồng ông đã ký vào hợp đồng do ông B đưa mà không kiểm tra lại về diện tích chuyển nhượng. Mãi sau này ông mới biết ông B làm thủ tục tách của ông 142m2 đất sang cho ông B chứ không phải 90m2 như thỏa thuận ban đầu
giữa hai bên. Ông B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 142 m2 và lấy số thửa mới là 575 tờ bản đồ số 9. Vợ chồng ông cũng thỏa thuận sẽ đồng ý bán cho ông B 142m2 như ông B đã được cấp GCNQSD đất và yêu cầu thanh toán số tiền tương đương với diện tích 52m2 tăng thêm so với thỏa thuận ban đầu, nhưng đến nay ông B chưa thanh toán số tiền mua 52m2 đất còn thiếu. Khi ông B xây nhà, ông B đã nhờ ông đổi một phần diện tích đất của ông (khoảng 70m2) ở vị trí giáp ranh đất nhà ông Mai Văn Đ để lấy khoảng 30 m2 phía sau thửa đất của ông B giáp thửa 411 của ông để xây nhà. Ông đã làm việc với ông Đ và ông Đồng nhất t đổi đất với vị trí và diện tích như đã nêu trên để cho ông quản lý sử dụng.
Vị trí ông bán đất cho ông B nằm hoàn toàn tại thửa mà ông mua của bà T2 và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay ông B cho rằng diện tích đất ông đang quản lý sử dụng là nằm trong thửa 412 không phải thửa 410 như đã mua của ông T, nên ông B khởi kiện yêu cầu ông phải trả cho ông B 142 m2 đất mà ông đã bán cho ông B tại thửa 410 thì ông không nhất trí, với các lý do sau đây:
- Thửa 410 có nguồn gốc do ông mua của bà T2 là thửa 194, tờ bản đồ số 24 (Bản đồ 299), diện tích 2,712 m2. Sau khi mua ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chỉnh lý số thửa theo bản đồ địa chính là thửa 410 tờ bản đồ số 9 diện tích 2,712 m2 đất thổ cư. Tuy nhiên, do quá trình đo đạc bản đồ địa chính cơ quan đo đạc đã đo tách thửa 194 tờ bản đồ 299 trước kia thành 02 thửa gồm thửa 410 diện tích 2.330m2 loại đất thổ cư và thửa 412 diện tích 272 m2 loại đất màu. Diện tích đất ông mua của bà T2 là 2.712m2 nhưng thửa 410 theo bản đồ mới chỉ có 2.330m2, nếu cộng diện tích thửa 410 và thửa 412 (2.330 + 272) cũng chỉ bằng 2.602m2, vẫn còn thiếu 110m2 so với diện tích ông mua của bà T2. Như vậy chứng tỏ có sự sai sót khi đo đạc bản đồ địa chính không đúng với ranh giới theo bản đồ 229 cũ và thực tế sử dụng đất của ông dẫn đến việc tách một phần diện tích đất thửa 410 của ông thành thửa 412 với diện tích 272m².
- Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và ông B có thể hiện giáp ranh phía Đông diện tích đất chúng tôi mua bán là đất của ông Đ. Trên thực tế cũng thể hiện rõ phía Đông thửa đất của ông là thửa 445 của gia đình ông Đ. Nếu bản đồ địa chính là đúng thì thửa số 410 của ông không giáp ranh thửa 445 của ông Đ mà bị ngăn cách bởi thửa 412 rồi mới đến thửa 445 của ông Đ. Như vậy, đối chiếu ranh giới được mô tả trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và ông B; đối chiếu về diện tích thửa đất 410 ông được cấp giấy chứng nhận với diện tích thửa đất 194 ông mua của bà T2 thì có thể xác định thửa 412 theo bản đồ địa chính là một phần của thửa 410 mà ông đã được cấp giấy chứng nhận. Việc đo đạc bản đồ tách thành thửa 412 là không đúng thực tế sử dụng đất của ông.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định diện tích tôi bán cho ông B là
nằm trong thửa 410 ông đã được cấp giấy chứng nhận, không có thửa 412 nào cả. Trên bản đồ địa chính thể hiện có thửa 412 là không đúng thực tế sử dụng đất, ranh giới và diện tích đất, do vậy ông không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Công B.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H vợ ông T nhất trí với ý kiến ông T và người đại diện theo uỷ quyền của ông T.
- Đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố T trình bày: Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tô Công B như sau: Ngày 29/11/1994, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Thanh T2 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ 299 số 24, với diện tích 2.712m2 loại đất thổ cư.
Ông Nguyễn Thanh T2 chuyển nhượng QSD đất cho ông Nguyễn Văn T. Ngày 9/6/2002, UBND thành phố cấp Giấy chứng nhận QSD đất số W 018427 cho ông Nguyễn Văn T tại thửa đất số 410, tờ bản đồ số 09, xã Q, thành phố T.
Ngày 10/9/2004, ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng QSD đất cho ông Tô Công B với diện tích 142m2 loại đất T, tại thửa đất số 410 và được chỉnh lý thành thửa 575, tờ bản đồ số 09 và đã được UBND xã Q xác nhận ngày 06/10/2004.
Ngày 19/01/2005, UBND thành phố cấp Giấy chứng nhận số AB 107351 với diện tích 142m2 tại thửa đất số 575, tờ bản đồ số 09 mang tên ông Tô Công B. Như vậy, căn cứ hồ sơ, việc UBND thành phố cấp GCN QSD đất ngày 19/1/2005 mang tên ông Tô Công B là đảm bảo về trình tự thủ tục.
Với nội dung nêu trên, tại bản án số 34/2023/DS - ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Áp dụng các điều 26; 35; 39; 143; 146; 147; 227; 228; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Điều 100; 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 705, 707 Bộ luật dân sự 2005; Các Điều 158, 159, 160, 161, 166; 175; 221, 223 và Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Công B đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất theo như hồ sơ pháp lý.
- Buộc ông Nguyễn Văn T phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là 28,9m² và trả lại diện tích đất cho ông Tô Công B 137,6m² (có các vị trí 2, 3, 5, 6, 2 theo sơ đồ đo vẽ) tại thửa đất số 575, tờ bản đồ số 9 vị trí đất tại xã Q, Thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AB 107351 đã được UBND Thành phố T cấp ngày 19/01/2005 mang tên ông Tô Công B. (Kèm theo là trích lục sơ đồ thửa đất).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AB 107351 đã được UBND Thành phố T cấp ngày 19/01/2005 mang tên ông Tô Công B.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/9/2023 ông T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án hoặc bác đơn khởi kiện của ông B.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông T và người đại diện theo uỷ quyền của ông T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông T huỷ bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Tô Công B.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND thành phố T, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử theo quy định.
- [2]. Về nguồn gốc thửa đất số 194 được thể hiện như sau: Ngày 29/11/1994, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho bà Nguyễn Thanh T2 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 24 (bản đồ 299) với diện tích 2.712m² là đất thổ cư. Ngày 17/6/2002 bà T2 chuyển nhượng cho ông T toàn bộ thửa đất số 194. Ngày 09/6/2002, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Văn T lúc này từ thửa 194 đổi thành thửa số 410 diện tích 2.712m² đất T, tờ bản đồ địa chính số 09, xã Q, thành phố T (BL 76). Ngày 10/9/2004, ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng QSD đất cho ông Tô Công B diện tích 142m² loại đất thổ cư, tại thửa đất số 410 tờ bản đồ số 09 xã Q. Theo hợp đồng chuyển nhượng này thì phía Đông giáp đất ông Đ; Phía Tây giáp đất ông T; Phía Nam giáp đất ông T; Phía Bắc giáp cánh đồng lúa (BL 09). Ngày 19/01/2005, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 142m² tại thửa đất mới cho ông B là thửa số 575, tờ bản đồ số 09 (BL 19).
- [3]. Xét kháng cáo của ông T thấy rằng: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T được UBND thành phố T cấp ngày 09/6/2002 thửa số 410 diện tích 2.712m² đất T, tờ bản đồ địa chính số 09, xã Q, thành phố T. Như vậy ông T có toàn quyền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tất cả thửa đất số 410 của ông T có diện tích 2.712m² đều là đất thổ cư. Khi chuyển nhượng cho ông B các bên chỉ mốc giới cho nhau và ông B đã xây dựng nhà trên diện tích đó. Nay ông B khởi kiện cho rằng ông mua với ông T tại thửa đất 410 là đất thổ cư, ông không mua đất màu tại thửa số 412 do vậy ông Yêu cầu ông T phải trả lại cho ông đất thổ cư tại thửa 410 theo hồ sơ pháp lý.
- [4]. Căn cứ vào Bản đồ 299 thửa đất số 194 có diện tích 2.712m² là đất thổ cư mang tên bà T2 đến năm 2002 bà T2 chuyển nhượng toàn bộ cho ông T thửa 194 và ông T được cấp quyền sử dụng đất thửa 410 diện tích vẫn 2.712m² là đất thổ cư. Căn cứ vào bản đồ địa chính thì thửa 194 bao gồm thửa 410, thửa 412 có diện tích 2.602m². Như vậy từ khi mua đất của bà T2 đến nay ông T vẫn sử dụng cả 2 thửa 410 và 412 nhưng ông T không hề biết cơ quan có thẩm quyền đã tách thửa 410 là đất thổ cư của ông T thêm 1 thửa nữa là thửa 412 là đất màu từ năm 1995, chỉ đến khi ông B khởi kiện ông mới được biết thửa đất 194 ông mua của bà T2 từ năm 2002 bao gồm cả thửa 412 là đúng thực tế. Thửa đất 412 của ông B giáp thửa đất 445 của ông Đ nhưng giữa thửa 412 của ông T và thửa 445 của ông Đ không vuông đất. Thửa đất của ông Đ giáp thửa 412 của ông T có hình chữ U. Thửa 412 của ông T có hình chữ L nên giữa ông B và ông T năm 2003 đã cắt đổi cho nhau để vuông cả hai thửa đất và hai ông đã sử dụng đúng ranh giới từ khi đổi năm 2003, ông Đ đã xây nhà vào đúng ranh giới mà ông Đ và ông T đổi đất cho nhau trước thời điểm ông T bán cho ông B, tuy hai ông chưa làm thủ tục đổi đất cho nhau theo đúng quy định của pháp luật. Tại văn bản thoả thuận ngày 20/8/2024 tại UBND xã Q vợ chồng ông Đ và vợ chồng ông T vẫn giữ nguyên quan điểm đổi đất cho nhau từ năm 2003 và xác định không tranh chấp. Theo đo đạc thì ông Đ và ông T đổi đất cho nhau từ điểm 12 đến điểm 13 trên sơ đồ đo đạc (BL 251). Theo hiện trạng thì ông B sau khi mua đất của ông T đã xây dựng nhà giáp luôn nhà đất của ông Đ đã đổi và làm nhà. Điều đó chứng tỏ ông T và ông B đều khai thống nhất đúng vị trí mà ông T bán, ông B xây dựng nhà đúng vị trí ông B mua là phù hợp với Hợp đồng chuyển nhượng năm 2004 mà ông T chuyển nhượng cho ông B có cạnh phía Đông giáp đất ông Đ. Nay ông B yêu cầu được lấy đất tại vị trí pháp lý mà ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm vào giữa thửa đất của ông T là điều hết sức vô lý.
- [5]. Tại biên bản làm việc của UBND xã Q ngày 11/01/2018 có mặt ông B, ông T3 và các thành phần tham gia của UBND xã đều công nhận Thửa 194 tờ bản đồ số 24 bản đồ 299 đối chiếu sang bản đồ địa chính thì vị trí thửa 412 có diện tích 272m² là đất thổ cư. Ông Nguyễn Đức T4 và ông Tô Công B nhất trí cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng đang sử dụng (BL 250). Như vậy phù hợp với Hợp đồng chuyển nhượng ngày 10/9/2004 ông T chuyển nhượng cho ông B cạnh phía Đông giáp đất của ông Đ là đúng.
- [6]. Tại biên bản xác minh ngày 09/4/2024 tại UBND xã Q thể hiện “Qua đối chiếu giữa bản đồ 299 đo vẽ năm 1986 với bản đồ địa chính đo vẽ năm 1995 thì thửa số 194, tờ bản đồ 24 trên bản đồ 299 tương ứng là thửa đất số 410 và thửa số 412 cùng tờ bản đồ số 9 trên bản đồ địa chính” (BL 216). Như vậy cũng phù hợp với Hợp đồng chuyển nhượng ngày 10/9/2004 ông T chuyển nhượng cho ông B cạnh phía Đông giáp đất của ông Đ là đúng.
- [7]. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/5/2024 có mặt ông B, ông T, công chức địa chính và trưởng xóm cũng xác định thửa số 412 là một phần của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 24 bản đồ địa chính xã Q đã được cấp quyền sử dụng đất ngày 29/11/1994 cho bà Nguyễn Thanh T2 diện tích 2.712m² là đất thổ cư và ngày 16/7/2002 bà T2 đã chuyển nhượng cho ông T toàn bộ thửa 194, còn thửa 412 theo bản đồ địa chính thì chưa cấp quyền sử dụng đất cho ai (BL 230). Tại phiên toà phúc thẩm ông B cho rằng ông thấy thửa đất số 412 là đất bỏ không nên ông đến xây nhà để ở còn ông mua với ông T đất là theo cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất theo hồ sơ pháp lý. Lời khai của ông B tại cấp phúc thẩm là không thể chấp nhận được bởi bản thân ông không phải là người ở địa phương mà đến thửa đất của ông T đang quản lý, sử dụng tự xây dựng nhà cửa mà ông T không có ý kiến gì. Như vậy tổng hợp với các tài liệu, chứng cứ cũng như lời khai của các đương sự tại phiên toà thì có đủ căn cứ khẳng định vào ngày 10/9/2004 ông T chuyển nhượng cho ông B 142m² đất thổ cư tại thửa 412 nằm trong thửa 410 cho ông B là đúng thực tế hai bên mua bán chuyển nhượng cho nhau.
- [8]. Xét trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B có đúng quy định của pháp luật hay không thì thấy rằng: Về mặt trình tự thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho ông B khi có hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên đã được cấp cơ sở phê duyệt là đúng theo pháp luật, nhưng sai ở vị trí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B. Căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng thì ông B mua của ông T phía Đông giáp đất của ông Đ đã có nhà xây (ông Đ đã đổi một phần cho ông T cho vuông đất) thế nhưng cơ quan cấp quyền sử dụng đất cho ông B lại cấp vào giữa thửa đất của ông T là việc làm tắc trách từ cán bộ địa chính phường, xã đến cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất sai vị trí dẫn đến các đương sự khởi kiện vụ án. Đáng lẽ phải huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án do cấp sơ thẩm khi giải quyết đã không đưa ông Đ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để làm rõ việc đổi đất giữa ông T và ông Đ. Tuy nhiên cấp phúc thẩm đã khắc phục, do vậy không cần huỷ bản án sơ thẩm vẫn đảm bảo được quyền lợi của các đương sự. Cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Căn cứ vào hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC ngày 03/4/2019 trong trường hợp này không cần tuyên huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào bản án để thực hiện việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo đúng vị trí sử dụng.
- [9]. Từ những căn cứ nêu trên, cần chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, ông B có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp lại quyền sử dụng đất theo đúng diện tích, ranh giới đã mua bán với ông T năm 2004. Ông Đ có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất theo diện tích đã đổi với ông T theo đúng quy định của pháp luật.
- [10]. Về chi phí tố tụng và án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
- [11]. Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông T giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp như đã phân tích nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 34, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Các Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Điều 100; 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 705, 707 Bộ luật dân sự 2005; Các Điều 158, 159, 160, 161, 175 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 34/2023/DS - ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Công B đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất theo như hồ sơ pháp lý thửa số 575 tờ bản đồ địa chính số 9 xã Q có các điểm 2, 3, 5, 6, 2 (có sơ đồ trích đo kèm theo bản án).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T: Xác định vị trí đất chuyển nhượng giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T và ông Tô Công B trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/9/2004 là vị trí mà ông B đã xây nhà từ sau khi mua đất của ông T theo các điểm 9, 13, 12, 22, 23, 11, 10, 9 (có sơ đồ trích đo kèm theo bản án).
- Ông Tô Công B và vợ chồng ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng mà ông B đã mua của vợ chồng ông T từ năm 2004 theo đúng quy định của pháp luật.
- Vợ chồng ông Mai Văn Đ và vợ chồng ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục biến động quyền sử dụng đất của ông Đ và ông T theo đúng quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ông Tô Công B phải chịu chi phí định giá tài sản và đo đạc lần một hết 6.500.000₫ (sáu triệu, năm trăm nghìn đồng). Xác nhận ông B đã
nộp đủ và chi phí xong. Chi phí đo đạc lần hai hết 3.600.000đ (ba triệu, sáu trăm nghìn đồng) ông T tự nguyện chịu và đã chi phí xong.
- Án phí: Miễn án phí sơ thẩm cho ông Tô Công B do là người cao tuổi. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm. Trả lại ông T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phản tố đã nộp theo biên lai thu số 0000820 ngày 05/4/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên. Trả lại ông T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002032 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Quế |
Bản án số 131/2024/DS - PT ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 131/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Công B đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất theo như hồ sơ pháp lý thửa số 575 tờ bản đồ địa chính số 9 xã Q có các điểm 2, 3, 5, 6, 2 (có sơ đồ trích đo kèm theo bản án).
