Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HS-PT

Ngày: 28-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Thụ lý số: 83/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Chiến T và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Chiến T và Lê Trung N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Chiến T, sinh năm: 1999, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: A T, Phường C, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1966 và bà: Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm: 1966; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 12/02/2020, bị Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 2.000.000đ (hai triệu đồng) về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”, đã chấp hành ngày 04/3/2020.

    Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 04/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

  2. Họ và tên: Lê Trung N, sinh năm: 2001, tại: Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn M, xã T, Thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn T2; con bà: Phan Thị Châu T3; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 04/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Trong vụ án này còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn V, Nguyễn Chiến T, Phạm Văn H, Trần Văn L, Lê Trung N, Hoàng Thị Yến N1 đều là các đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp (loại Ketamnie, thuốc lắc).

T và V quen biết nhau từ đầu năm 2022. Đến đầu năm 2023, cả hai bàn bạc, thống nhất mua ma túy (loại Ketamine, thuốc lắc) về để sử dụng và phân chia, bán lại cho người khác kiếm tiền lời. V nhận việc liên hệ mua, phân chia ma túy còn T nhận việc đi giao ma túy; tiền bán ma túy V thu về sau đó chia lợi nhuận cho T. Thực hiện ý định trên, vào ngày 16/02/2023, V liên hệ đặt mua của một người trên mạng xã hội facebook (không rõ nhân thân, lai lịch) 50 (năm mươi) viên thuốc lắc và 01 hộp 10 Ketamine với giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, V mang số ma túy trên về phòng trọ của T thuê ở tại A T, Phường C, TP Đ phân chia và đã bán hết số ma túy này. Sau đó, V và T tiếp tục bàn bạc, thống nhất sử dụng toàn bộ số tiền thu được từ lần bán ma túy kể trên mua ma túy để bán cho người khác lấy tiền. V tiếp tục thông qua mạng xã hội facebook liên hệ đặt mua được của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) ma túy Ketamine thì người này đồng ý bán cho V 40 (bốn mươi) viên thuốc lắc và 02 hộp 10 Ketamine. Sáng ngày 04/03/2023, V nhận được số ma túy đặt mua và đem về phòng trọ của T ở tại số A T, Phường C, TP Đ. Tại đây, V một mình phân chia số ma túy này rồi đưa cho T cất giữ tại phòng trọ và đi giao khi có khách hỏi đặt mua.

Ngày 04/3/2023, là sinh nhật của T, T tổ chức tiệc sinh nhật tại quán T5 trên đường N, Phường H - Đ và mời V, H, L, Hoàng Ngô Trà M, sinh năm: 1997, nơi thường trú: C T, Phường H - Đ - Lâm Đồng (bạn gái của T), Bùi Lê Nguyễn Yến N2, sinh năm: 2002, nơi thường trú: A H, Phường A - Đ, Lâm Đồng (bạn gái của H), Hoàng Thị Yến N1, sinh năm: 2003, nơi thường trú: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tham dự cùng ăn uống tại quán. Lúc này, V liên lạc với Lê Trung N nhờ N tìm thuê 01 căn villa thì N đồng ý, sau đó, N cũng ra nhậu cùng ở quán T5, V ngồi với N và nói cho N biết V tìm villa để sử dụng ma túy và nghe nhạc. Tại quán T5 thì V, H, T, N bàn bạc, thống nhất việc tìm kiếm một căn villa để cùng mọi người sử dụng ma túy, nghe nhạc cụ thể: H nói N tìm cho cả nhóm một căn villa và nói V đưa số điện thoại của V để cho N đăng ký đặt, xem phòng villa thì N, V đồng ý thực hiện. Nguyên tìm được hai căn villa trong đó một căn villa giá 3.000.000đ (ba triệu đồng), một căn Villa địa chỉ: 4 N, Phường F - Đ giá 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau đó, H, V, N đi xem căn V1 tại địa chỉ 4 N, Phường F - Đ và V nói T về phòng trọ lấy ma túy.

Nguyên dẫn V, H chở theo Bùi Lê Nguyễn Yến N2 đến căn villa địa chỉ 4 N, Phường F - Đ do chị Vũ Thị L1, sinh năm: 1988, nơi thường trú: 4 N, Phường F - Đ làm chủ. Đến nơi, N và V cùng nhau đi xem căn phòng thứ hai thuộc tầng 3 căn villa và thống nhất chọn căn phòng này để sử dụng ma túy. H nói V chuyển tiền thuê villa cho chị L1 thì V đồng ý và chuyển khoản cho chị L1 số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng). Sau đó, V liên lạc, rủ và đi đón thêm Võ Thị Thu H1, sinh năm:1997, nơi thường trú: L - L - Đ - Lâm Đồng (bạn bè quen biết ngoài xã hội) đến villa này chơi. T đi taxi cùng với M và Hoàng Thị Yến N1 để về nhà trọ số A T, Phường C - Đ lấy ma tuý, trên đường đi Hoàng Thị Yến N1 liên hệ với Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày: 09/4/2006, nơi đăng ký HKTT: Ấp P, xã L, huyện Đ - Đồng Nai (N1 biết Á cũng là người sử dụng ma túy Ketamine, thuốc lắc) rủ Á đi “bay” ở V (cả hai đều hiểu là đi sử dụng ma túy và nghe nhạc ở villa), Á đồng ý và N1 nói sẽ qua phòng trọ của Á đón. Khi gần đến nhà trọ thì một mình T đi bộ vào phòng lấy ma túy (Ketamine, thuốc lắc) rồi đi ra ngoài cùng Hoàng Thị Yến N1, M đi đón Nguyễn Thị Ngọc Á ở tại E H, Phường F - Đ rồi cả bốn người cùng nhau đi đến địa chỉ 4 N, Phường F - Đ.

Tại phòng thứ hai thuộc tầng 3, căn villa địa chỉ 4 N, Phường F - Đ thì V chuẩn bị loa đèn phục vụ cho việc sử dụng ma túy. T lấy ma túy (Ketamine, thuốc lắc) bỏ ra đĩa sứ đặt trên bàn để cùng V, H, N, L, Bùi Lê Nguyễn Yến N2, Hoàng Ngô Trà M, Hoàng Thị Yến N1, Nguyễn Thị Ngọc Á sử dụng, chỉ có riêng H1 là không sử dụng ma túy. L lấy thẻ ngân hàng V3, màu nâu của L để lên đĩa sứ có chứa Ketamine để cà, kẻ đường Ketamine và cuốn một ống hút bằng tờ dạng tờ tiền mệnh giá 20.000đ để cho mọi người sử dụng ma túy Ketamine trên đĩa. Theo đó, khi V chở H1 đến nơi, H1 vào trong phòng thấy loa, đèn nháy đang mở và trên gường chỗ mọi người ngồi có đĩa sứ, trên đĩa có ma túy Ketamine, thẻ nhựa, ống hút thì H1 biết mọi người đang sử dụng trái phép chất ma túy và nghe nhạc. Lúc này V nói H1 “Ngồi chơi xíu rồi V chở về”, H1 đồng ý và ngồi xuống cùng mọi người. Tại đây, V đưa một mãnh viên thuốc lắc cho H1 nhưng H1 từ chối không sử dụng. Sau đó H1 đã có hành vi đưa đĩa sứ có Ketamine cho Bùi Lê Yến N2 (đang ngồi cạnh H1) để N2 sử dụng, N2 sử dụng ma túy xong thì chiếc đĩa có ma túy này được đưa xuống dưới nệm và Hoàng Ngô Trà M ngồi phía đối diện H1 đã chứng kiến.

Khi các đối tượng đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị Công an thành phố Đ tiến hành kiểm tra. Trong phòng lúc này có bật đèn nháy, nhạc lớn, dưới nền nhà cạnh tấm nệm có 01 dĩa sứ hình tròn, hoa văn hình bông hoa, trên dĩa có: 01 thẻ nhựa màu nâu của ngân hàng V3 mang tên TRAN VAN LOC; 01 ống hút được quấn bằng tờ dạng tờ tiền mệnh giá 20.000đ và chất bột dạng tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; trên sàn ở góc tường sát nệm ngủ phía trong có 01 gói nilong màu trắng trong, dạng túi zip, bên trong chứa chất bụi màu trắng nghi là ma tuý.

Qua kiểm tra Công an còn phát hiện:

  • Trong túi quần nhỏ bên phải phía trước T đang mặc phát hiện 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, mở ra bên trong chứa 02 viên nén màu xanh hình vương miện, mặt sau có ghi chữ ROLEX nghi là ma tuý; trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc có: 01 gói nilong màu trắng trong, dạng túi zip, bên trong chứa 04 gói nilong dạng túi zip; mỗi gói chứa: 01 gói nilong dạng túi zip, kích thước 4cm x 4cm đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý và 02 viên nén màu xanh hình vương miện, mặt sau có ghi chữ ROLEX nghi là ma tuý.
  • Tại vị trí trên ghế băng bằng gỗ dưới tivi sát cửa ra vào phát hiện 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555, bên trong chứa: 01 gói nilong dạng túi zip màu trắng trong, bên trong có: 01 gói nilong dạng túi zip kích thước 4cm x 4cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, 01 gói nilong dạng túi zip kích thước 7cm x 4cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 gói nilong kích thước 8,5cm x 5cm bên trong chứa chất bột màu xanh nghi là ma tuý, 01 gói nilong kích thước 8,5cm x 5cm bên trong chứa 01 viên nén và 02 mảnh viên nén màu xanh nghi là ma tuý; 02 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.

Tại chỗ, các đối tượng khai nhận đang cùng nhau sử dụng ma túy loại ketamine, thuốc lắc thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang. Nguyễn Văn T4 cũng khai nhận số chất tinh thể, viên nén cất giữ trong quần T4 đang mặc và trong vỏ bao thuốc lá hiệu 555, trên đĩa sứ mà Công an phát hiện, thu giữ tại căn phòng là do T4 mang đến để cùng sử dụng với V, H, L, N, Bùi Lê Nguyễn Yến N2, Hoàng Ngô Trà M, Hoàng Thị Yến N1, Nguyễn Thị Ngọc Á chưa hết còn lại. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại chỗ đối với các đối tượng, thu giữ niêm phong tang vật nghi là ma túy, dụng cụ các đối tượng sử dụng ma túy, cùng một số đồ vật, tài sản khác của các đối tượng theo quy định (BL 62-72).

Tiến hành test nhanh đều cho kết quả T4, V, H, N, L, Bùi Lê Nguyễn Yến N2, Hoàng Ngô Trà M, Hoàng Thị Yến N1, Nguyễn Thị Ngọc Á đều dương tính với chất ma túy loại Ketamine, thuốc lắc. Riêng H1 âm tính với chất ma túy (BL: 82-91).

* Tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ Nguyễn Chiến T ở tại địa chỉ A T, Phường C, TP Đ - Lâm Đồng Công an phát hiện, thu giữ, tạm giữ:

  • Tại gác xếp trong phòng là chỗ Nguyễn Chiến T ngủ phát hiện có 01 túi da màu đen, bên trong có 01 (một) túi nylon màu đen, bên trong đựng: 01 (một) hộp giấy màu đen có dòng chữ “BTLUXURY” bên trong có:
    • 01 (một) túi nylon màu trắng trong hàn kín có đường chỉ màu đỏ, bên trong có 13 viên nén màu xanh nghi là ma túy.
    • 01 (một) túi nylon màu trắng trong hàn kín có đường chỉ màu đỏ, bên trong đựng 05 (năm) gói nylon nhỏ hơn đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
    • 01 (một) túi nylon màu trắng trong hàn kín có đường chỉ màu đỏ, bên trong đựng 06 (sáu) gói nylon màu trắng trong đường chỉ màu đỏ, trong đó có 05 (năm) gói nylon đựng 02 viên nén màu xanh; 01 gói nylon đựng chất tinh thể màu trắng và 01 (một) gói nylon đựng 03 viên nén màu xanh và 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
    • 01 (một) gói nylon màu trắng trong có đường chỉ màu đỏ bên trong có 05 (năm) gói nylon trắng trong hàn kín, bên trong cả 05 gói nylon này đều đựng 02 viên nén màu xanh và 01 gói ny lon đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
  • Tại vị trí dưới tấm lót sàn cạnh chỗ T ngủ có:
    • 01 (một) gói nylon màu trắng trong bên trong có một mảnh viên nén màu hồng.
    • 01 (một) gói nylon màu trắng trong bên trong có đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
  • 01 cân điện tử màu nâu đen và 22 gói nylon, màu trắng trong có đường chỉ màu đỏ bên trong, không đựng gì (BL: 73-76).

Qua đấu tranh tại chỗ, T và V khai nhận đây là số tinh thể màu trắng, viên nén trong các gói nylon nêu trên là ma túy Ketamine, thuốc lắc của T và V bàn bạc, thống nhất đặt mua, phân chia và cất giấu tại phòng trọ của T để cùng sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Cân điện tử, các gói nylon kể trên là dụng cụ dùng để phân chia ma túy.

Quá trình điều tra đến nay, các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. V và T cũng thừa nhận số ma túy công an phát hiện, thu giữ trong quần của T và tại căn phòng nơi các đối tượng sử dụng ma túy là của V và T. T lấy số ma túy này từ số ma túy cả hai đặt mua về để bán, cất giấu tại chỗ T ở A T, Phường C, TP Đ, Lâm Đồng đem đến cho mọi người sử dụng, nếu sử dụng không hết thì T mang về để cùng V bán cho người khác, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

* Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

  • 01 (một) đĩa sứ hình tròn, hoa văn hình bông được niêm phong theo quy định.
  • 01 (một) loa màu đen, dạng hình tròn, có ghi "Harman/Kardon”, đường kính 28cm.
  • 01 (một) đèn hình hộp chữ nhật kích thước 22,5cm x 16cm x 10,5cm bên trên có ghi “MP-10D”.
  • 01 (một) đèn hình hộp vuông bo tròn góc màu trắng cạnh 15,4cm, dày 7,5cm
  • 01 (một) đĩa đường kính 20cm, 01 (một) thẻ ATM ghi ngân hàng V3 mang tên TRAN VAN LOC, 01 (một) ống được cuốn bằng tờ dạng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000đ.
  • 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu 555.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0868757398.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia dạng phím bấm màu đen, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0976706176.
  • 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Chiến T
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu trắng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0988728360, tạm giữ của Phạm Văn V.
  • 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Văn V.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0909913168 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia dạng phím bấm màu đen, đã qua sử dụng, tạm giữ của Trần Văn L.
  • 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn L.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia dạng phím bấm màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng tạm giữ của Phạm Văn H.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0328976179 tạm giữ của Lê Trung N.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0981771325 tạm giữ của Nguyễn Thị Ngọc Á.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0332178401 tạm giữ của Bùi Lê Nguyễn Yến N2.
  • 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Lê Nguyễn Yến N2.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0849222853 tạm giữ của Võ Thị Thu H1.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu XS Max màu đen, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0888436165 tạm giữ của Hoàng Ngô Trà M.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0978829098 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, không gắn sim mặt sau bị bể - vỡ, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng tạm giữ của Hoàng Thị Yến N1.
  • 01 (một) USB màu bạc, có chữ K - DTSEP (16GB), bên trong USB này chứa dữ liệu là đoạn video, hình ảnh nhóm đối tượng tham gia tụ tập sử dụng chất ma túy tại phòng thứ hai, lầu 3 căn villa 4 N, Phường F, TP Đ bị Công an kiểm tra, bắt ngày 04/3/2023.

* Tại Kết luận giám định số 253/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:

  • Phong bì 01:
    • Mẫu tinh thể (M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,2540g (sáu phẩy hai năm bốn không gam), loại Ketamine.
    • Mẫu tám viên nén màu xanh (M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,2201g (ba phẩy hai hai không một gam), loại MDMA.
  • Phong bì 02: Mẫu hai viên nén màu xanh (M3) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8053g (không phẩy tám không năm ba gam), loại MDMA.
  • Phong bì 03:
    • Mẫu một viên nén, hai mảnh viên nén và chất ở dạng bột màu xanh (M4) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7217g (không phẩy bảy hai một bảy gam), loại MDMA.
    • Mẫu tinh thể (M5) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,5233g (bốn phẩy năm hai ba ba gam), loại Ketamin.
  • Phong bì 04: Mẫu chất bột (M6) được niêm phong gửi giám định là ma túy Ketamine, không đủ khối lượng để cân.
  • Phong bì 05: Mẫu chất bột (M7) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3101g (không phẩy ba một không một gam), loại Ketamine.
  • Phong bì 06: Mẫu một mảnh viên nén màu hồng (M8) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1336g (không phẩy một ba ba sáu gam), loại MDMA.
  • Phong bì 07: Mẫu tinh thể (M9) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8930 g (không phẩy tám chín ba không gam), loại Ketamine.
  • Hộp giấy:
    • Mẫu tinh thể (M10) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 19,2560g (một chín phẩy hai năm sáu không gam), loại Ketamin.
    • Mẫu 36 (ba mươi sáu) viên nén màu xanh (M11) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 14,5515g (một bốn phẩy năm năm một năm gam), loại MDMA.

Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT: 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, STT:11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ (BL: 54-61).

Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKSĐL ngày 26/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V2 và Nguyễn Chiến T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Trần Văn L, Lê Trung N và Võ Thị Thu H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Truy tố Hoàng Thị Yến N1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn V; Nguyễn Chiến T phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn V; Nguyễn Chiến T, Phạm Văn H, Trần Văn L, Lê Trung N, Hoàng Thị Yến N1 và Võ Thị Thu H1 phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 2 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn V 11 (mười một) năm tù;
    • Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 2 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn V 10 (mười) năm tù;
    • Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phạm Văn V phải chấp hành chung cho cả hai tội là 21 (hai mươi mốt) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T 11 (mười một) năm tù;
    • Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù;
    • Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Chiến T phải chấp hành chung cho cả hai tội là 20 (hai mươi năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
    • Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo Bản án số 94/2023/HSST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2023. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 15/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trung N 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Yến N1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38; 54 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Thu H1 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/4/2024, bị cáo Lê Trung N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 08/4/2024, bị cáo Nguyễn Chiến T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử đối với các bị cáo, không bị oan, không khiếu nại hành vi tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo, không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  3. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

    Năm 2023, T và V bàn bạc, thống nhất mua ma túy về sử dụng và phân chia, bán lại cho người khác kiếm tiền lời. V nhận việc liên hệ mua, phân chia ma túy còn T nhận việc đi giao ma túy; tiền bán ma túy V thu về sau đó chia lợi nhuận cho T. Ngày 16/02/2023, V liên hệ đặt mua của một người trên mạng xã hội facebook (không rõ nhân thân, lai lịch) 50 (năm mươi) viên thuốc lắc và 01 hộp 10 Ketamine với giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). V mang số ma túy trên về phòng trọ của T thuê ở tại A T, Phường C, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng phân chia và đã bán hết số ma túy này. Sau đó, V tiếp tục thông qua mạng xã hội facebook liên hệ đặt mua được của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) ma túy Ketamine thì người này đồng ý bán cho V 40 (bốn mươi) viên thuốc lắc và 02 hộp 10 Ketamine. Sáng ngày 04/3/2023, V nhận được số ma túy thì đem về phòng trọ của T ở tại số A T, Phường C, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng cất giữ tại phòng trọ và đi giao khi có khách hỏi đặt mua.

    Ngày 04/3/2023, T tổ chức tiệc sinh nhật tại quán T5 trên đường N, Phường H - Đ và mời V, H, L, N, Hoàng Ngô Trà M, Bùi Lê Nguyễn Yến N2, Hoàng Thị Yến N1 tham dự cùng ăn uống. Tại quán T5 thì V, H, T, N bàn bạc, thống nhất việc tìm kiếm và thê căn villa địa chỉ: 4 N, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng do chị Vũ Thị L1 làm chủ, để mọi người sử dụng ma túy. Sau đó, V liên lạc, rủ và đi đón thêm Võ Thị Thu H1 đến villa này chơi. T đi taxi cùng với M và Hoàng Thị Yến N1 để về nhà trọ số A T, Phường C - Đ lấy ma tuý, trên đường đi Hoàng Thị Yến N1 liên hệ và rủ Nguyễn Thị Ngọc Á đi sử dụng ma túy ở V, Á đồng ý. Khi gần đến nhà trọ thì T đi bộ vào phòng lấy ma túy rồi đi ra ngoài cùng Hoàng Thị Yến N1, M đi đón Nguyễn Thị Ngọc Á ở tại E H, Phường F, thành phố Đ rồi cả bốn người cùng nhau đi đến căn villa đã thuê. Khi đến căn villa, T lấy ma túy bỏ ra đĩa sứ đặt trên bàn để cùng V, H, N, L, Bùi Lê Nguyễn Yến N2, Hoàng Ngô Trà M, Hoàng Thị Yến N1, Nguyễn Thị Ngọc Á sử dụng, chỉ có riêng H1 là không sử dụng ma túy. V đưa một thuốc lắc cho H1 nhưng H1 từ chối không sử dụng. Sau đó H1 đã có hành vi đưa đĩa sứ có Ketamine cho Bùi Lê Yến N2 (đang ngồi cạnh H1) để N2 sử dụng, N2 sử dụng ma túy xong thì chiếc đĩa có ma túy này được đưa xuống dưới nệm và Hoàng Ngô Trà M ngồi phía đối diện H1 đã chứng kiến. Khi các đối tượng đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị Công an thành phố Đ tiến hành kiểm tra.

    Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Phạm Văn V; Nguyễn Chiến T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255; điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Văn H, Trần Văn L, Lê Trung N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị Yến N1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và bị cáo Võ Thị Thu H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

  4. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Chiến T và Lê Trung N xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có ông bà được tặng huân huy chương nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T 20 (hai mươi) năm 06 (sáu) tháng tù, Lê Trung N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Trung N giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo Nguyễn Chiến T cho rằng cấp sơ thẩm chưa áp dụng hết tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng và đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  5. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chiến T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Trung N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T 11 (mười một) năm tù;
      • Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chiến T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù;
      • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Chiến T phải chấp hành chung cho cả hai tội là 20 (hai mươi năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trung N 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Chiến T, Lê Trung N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • Phòng KTNV&THA (02);
  • Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • TAND thành phố Đà Lạt (02);
  • VKSND thành phố Đà Lạt (01);
  • Cơ quan CSĐT CA thành phố Đà Lạt (01);
  • Cơ quan THAHS thành phố Đà Lạt (01);
  • Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • Bị cáo (02);
  • Văn phòng TAND tỉnh (01);
  • Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 131/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn chiến thắng - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger