|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST Ngày 27 - 10 - 2024 "V/v ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu và ông Nguyễn Xuân Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Chế Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 160/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/11/2023 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐ-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1984
Hiện trú tại: T Tochigi Ken Ashikagashi Ozone C, J, Nhật Bản. Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng của nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, Số A đường N, phường C, TP H, tỉnh Hải Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lê Quang C, sinh năm 1983
Hiện trú tại: Nhật Bản (không rõ địa chỉ cụ thể). Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
Thân nhân bố mẹ anh Lê Quang C: Ông Lê Quang T1 và bà Đặng Thị N; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn”, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2010 tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn chị L về nhà anh C làm dâu và vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2014 anh C đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Năm 2019 thì chị L cũng sang Nhật Bản xuất khẩu lao động. Từ khi xa nhau, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C không quan tâm đến cuộc sống của vợ con, ngày càng thờ ơ và vô tâm, chỉ biết sống cho riêng mình. Mọi việc chi tiêu trong gia đình đều do một mình chị L chi trả, tiền ăn học của con cũng một mình chị L đứng ra lo toan. Chính vì cuộc sống vợ chồng xa cách nên không còn quan tâm đến nhau, không nói chuyện với nhau nhiều nữa và cũng không còn giữ liên lạc. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ, nhưng chị L xác định tình cảm không còn nên không thể về đoàn tụ được. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung cũng đã mất, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Quang C.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Lê Quang N1, sinh ngày 17/9/2011. Hiện nay cháu đang ở cùng với ông bà nội. Khi ly hôn chị đề nghị giao cháu N1 cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trước khi chị về Việt Nam đề nghị giao cháu N1 cho ông bà nội chăm sóc. Hàng tháng chị sẽ cấp dưỡng nuôi cháu số tiền 1.500.000 đồng.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tất cả phiên tòa xét xử, đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án.
Về phía bị đơn anh Lê Quang C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án tại trụ sở Tòa án, tại UBND xã H, và niêm yết công khai thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đ tại Nhật Bản theo quy định, đồng thời thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ tiếng nói Việt Nam. Ngày 15/7/2024, H phát thanh đối ngoại quốc gia Đ1 VOV5 đã thông báo trên kênh thông tin dành cho người nước ngoài các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C, phát vào các ngày 16, 17, 18/7/2024. Nhưng đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được ý kiến của anh C đối với yêu cầu của chị L.
Tại bản tự khai ngày 11/12/2023, cháu Lê Quang N1 trình bày: Ba, mẹ cháu ly hôn thì cháu muốn tiếp tục được sinh sống cùng với ông bà nội, nếu sau này mẹ cháu về nước thì cháu muốn sinh sống cùng với mẹ, mẹ cháu tên Nguyễn Thị Thu L vì mẹ cháu đã sinh cháu ra, cũng góp phần giúp cháu lớn lên, chu cấp tiền nuôi cháu ăn học.
Ngày 18/01/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại bà Đặng Thị N (mẹ đẻ của anh Lê Quang C): Anh Lê Quang C là con trai của bà bắt đầu đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản cách đây khoảng 7-8 năm. Hiện nay đang cư trú ở Nhật Bản nhưng chưa có địa chỉ cư trú ổn định, bà không biết nên không cung cấp được địa chỉ cụ thể cho Tòa án. Anh C vẫn liên lạc về cho gia đình trao đổi qua điện thoại. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án bà đã thông báo cho anh C được biết, anh C đã biết được việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa chị L và anh C. Tuy nhiên, anh C không có ý kiến gì. Đối với cháu Lê Quang N1 đang ở cùng với bà từ khi cháu 3 tuổi cho đến nay cháu đã học lớp 7, bố cháu thường xuyên gửi tiền về nuôi cháu và mẹ cháu chỉ mới gửi tiền về nuôi cháu khoảng 3 năm trở lại đây. Bà đồng ý sẽ tiếp tục nuôi cháu cho đến khi cháu trưởng thành.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đúng quy định, đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu L, xử cho chị L được ly hôn anh Lê Quang C; Về con chung: giao cháu Lê Quang N1, sinh ngày 17/9/2011 cho chị Nguyễn Thị Thu L chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay chị L đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài chưa biết khi nào về nước, nên tạm giao cháu N1 cho ông bà nội cháu (ông T1, bà N) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị L về Việt Nam. Buộc chị L và anh C mỗi người phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu N1 cùng ông T1, bà N mỗi người một tháng 1.500.000 đồng, kể từ tháng 10/2024 cho đến khi chị L về Việt Nam. Về tài sản chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu L hiện đang cư trú tại Nhật Bản có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” có xác nhận của Đ tại Nhật Bản. Bị đơn anh Lê Quang C đang làm ăn, sinh sống tại Nhật Bản, theo thông tin cung cấp của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Q thì anh C đã xuất, nhập cảnh nhiều lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 07/10/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Đây là vụ án có nguyên đơn, bị đơn là Công dân Việt Nam đang cư trú và làm việc tại nước ngoài. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bà Đặng Thị N là mẹ đẻ của anh Lê Quang C, bà N xác nhận đã thông báo văn bản tố tụng cho anh C. Do chị Nguyễn Thị Thu L và thân nhân của anh Lê Quang C không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi làm việc của anh C, nên thuộc trường hợp cố tình dấu địa chỉ theo quy định tại Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tòa án đã niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án tại trụ sở Tòa án, tại UBND xã H, và niêm yết công khai thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đ tại Nhật Bản theo quy định. Đồng thời thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ tiếng nói Việt Nam. Ngày 15/7/2024, H phát thanh đối ngoại quốc gia Đ1 VOV5 đã thông báo trên kênh thông tin dành cho người nước ngoài các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C, phát vào các ngày 16, 17, 18/7/2024. Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa vào ngày 20/8/2024, nhưng anh C vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Vì vậy, phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay anh C vẫn vắng mặt không có lý do và nguyên đơn chị L có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ các Điều 228, 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 30/7/2010 tại giấy chứng nhận kết hôn số 22/2010. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hòa thuận hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2014 anh C đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Năm 2019, chị L cũng sang Nhật Bản xuất khẩu lao động. Từ khi sống xa nhau, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C không quan tâm đến cuộc sống của vợ con, ngày càng thờ ơ và vô tâm, chỉ biết sống cho riêng mình. Mọi việc chi tiêu trong gia đình đều do một mình chị L chi trả. Từ đó, hai bên không liên lạc hỏi han, quan tâm gì đến nhau, ai lo và biết công việc của người đó. Hiện tại chị L thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, tình cảm không còn, không trở lại sống chung cùng nhau được. Vì vậy, chị L kiên quyết xin ly hôn anh C; còn anh C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đ1 VOV5, niêm yết văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú của anh C trước khi xuất cảnh, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và thông qua gia đình nên anh C đã biết được chị L đang làm đơn xin ly hôn anh tại Tòa án, nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L. Thể hiện anh C không hề quan tâm gì đến vợ, để mặc chị L muốn làm gì thì làm. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu L, cho chị L được ly hôn anh Lê Quang C là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Xét ý kiến, yêu cầu của chị L và con chung thấy, hiện nay cháu N1 đang sinh sống, học tập cùng ông bà nội kể từ khi chị L, anh C sang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài cho đến nay. Cháu N1 sinh sống học tập cùng ông bà nội đã ổn định. Trong quá trình cháu N1 sống chung cùng ông bà nội, chị L, anh C cũng đã gửi tiền về cho ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1. Ông bà nội cháu N1 cũng nhất trí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 cho đến khi cháu trưởng thành. Chị L có nguyện vọng khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1, nhưng hiện nay chị L đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, nên không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị L. Tạm giao cháu N1 cho ông bà nội được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị L về Việt Nam. Chị L, anh C phải có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng ông bà nội, mỗi tháng mỗi người 1.500.000 đồng, kể từ tháng 10/2024 cho đến khi chị L về Việt Nam là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, nguyện vọng của cháu Lê Quang N1 và quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu L không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng khác: Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 38; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153; các Điều 228, 238, Điều 469, 474, 475; điểm c khoản 6 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu L được ly hôn anh Lê Quang C. Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Quang N1, sinh ngày 17/9/2011 cho chị Nguyễn Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị L làm ăn sinh sống ở nước ngoài, tạm giao cháu Lê Quang N1 cho ông bà nội cháu (Ông Lê Quang T1 và bà Đặng Thị N) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị L về Việt Nam. Chị L, anh C mỗi người phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng ông Lê Quang T1 và bà Đặng Thị N mỗi tháng mỗi người 1.500.000 đồng, kể từ tháng 10/2024 cho đến khi chị L về Việt Nam.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005901 ngày 27/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình. Chị Nguyễn Thị Thu L và anh Lê Quang C mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
4. Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu L phải chịu chi phí đăng tin VOV5 và chi phí thu thập chứng cứ, với số tiền là 4.974.000 đồng (chị L đã nộp đủ và chi phí hết).
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu L, bị đơn anh Lê Quang C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ đã ký Dương Viết Hải |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 27/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
