Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HSST

Ngày 27 tháng 10 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Khoa và bà Đinh Thị Đức.

Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thủy Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Phong, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2023/TLST - HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hữu T, sinh ngày 06/7/1971. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Làm ruộng.

Con ông Nguyễn Ngọc L, đã chết; con bà Nguyễn Thị T1, đã chết.

Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4. Có vợ là Phan Thị H, sinh năm 1972; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2004.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 77/2016/HSST ngày 25/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, xử phạt Nguyễn Hữu T 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong án phạt tù ngày 15/02/2022)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

2. Họ và tên: Tạ Xuân Đ, sinh ngày 24/5/1970. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/10; nghề nghiệp: Làm ruộng.

Con ông Tạ Xuân V (đã chết); con bà Nguyễn Thị M (đã chết).

Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 8. Có vợ là Thạch Thị H1, sinh năm 1973; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Thạch Thị H1, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)

* Người chứng kiến:

Ông Trương Văn H2, sinh năm 1962 (có mặt)

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Tổ công tác Công an xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tuần tra, kiểm soát tại xóm Đ, xã Y, huyện Đ phát hiện 01 đối tượng nam giới điều khiển xe mô tô BKS: 20F1-226.97 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người này khai họ tên là Tạ Xuân Đ, đồng thời tự giác giao nộp 02 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng Đ đang cầm ở tay trái cho Tổ công tác và khai đây là 02 gói chất ma túy loại Heroine Đức mua của Nguyễn Hữu T, trú tại xóm K, xã Y, huyện Đ với giá 400.000 đồng để mang về nhà sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 02 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A); 01 xe mô tô hiệu Honda Dream BKS: 20F1-226.97.

Xác định vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã Y đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 21 giờ 10 phút ngày 15/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Tạ Xuân Đ trong phong bì ký hiệu A có khối lượng: 0,134 gam (được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định; Vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong A niêm phong vào bì A2).

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Tạ Xuân Đ. Kết quả khám xét không thu giữ gì.

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 16/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Hữu T tại xóm K, xã Y, huyện Đ. Kết quả:

- Thu giữ tại túi quần đùi phía trước bên trái Thật đang mặc:

  • + 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 03 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng;
  • + 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng;
  • + 02 gói giấy màu bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng;
  • + 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng;
  • + 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng (niêm phong ký hiệu B).

- Thu giữ trên mặt két sắt kê trong buồng ngủ nhà Thật: 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng (niêm phong ký hiệu C).

- Thu giữ trong ví của Thật số tiền 4.900.000 đồng tiền Ngân hàng N (niêm phong ký hiệu D) và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus vỏ màu vàng, số thuê bao 0357.905.758 (niêm phong ký hiệu E).

Hồi 17 giờ ngày 16/6/2023 CQCSĐT Công an huyện Đ đã phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Hữu T:

- Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong B có khối lượng 0,242 gam (Niêm phong vào phong bì B1 làm mẫu giám định).

- Số chất bột màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu B và C có khối lượng là 0,278 gam (Niêm phong vào phong bì B2 làm mẫu giám định).

Vỏ giấy gói, hộp nhựa, vỏ túi nilong, vỏ bì niêm phong B, C niêm phong vào phong bì B3.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hữu T, Tạ Xuân Đ khai nhận như sau: Khoảng 16 giờ ngày 14/6/2023, T đi xuống khu vực đường T, thành phố T để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, T gặp 01 người đàn ông (Thật không rõ tên, tuổi, địa chỉ) qua giao dịch, T đã mua của người đàn ông này 05 phân ma túy loại Heroine và 05 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến được đựng trong 01 túi nilon màu trắng với giá 2.150.000 đồng. Sau khi mua được chất ma túy, Thật đi về nhà và sử dụng một phần số chất ma túy loại Heroine và hồng phiến vừa mua. Số chất ma túy loại Heroine và hồng phiến còn lại, T chia thành 11 gói nhỏ và đã thu giữ được 09 gói (trong đó loại ma túy Heroine có 07 gói được gói bằng giấy màu vàng, giấy màu bạc, giấy màu trắng và túi nilon màu trắng; 02 túi nilon màu trắng là loại ma túy dạng hồng phiến).

Khoảng 09 giờ ngày 15/6/2023, Đ đến nhà T hỏi mua chất ma túy, T đồng ý và bán cho Đ 02 gói chất ma túy, loại Heroine được gói bằng giấy bạc với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ ngày 16/6/2023 khi T đang ở nhà thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ khám xét thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,134 gam.

Tại Kết luận giám định số 817/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,242 gam.

Cục vật chất màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu B2 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,278 gam.

Bản Cáo trạng số 126/CT-VKSĐT ngày 09/10/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố Tạ Xuân Đ đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Hữu T đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu T, Tạ Xuân Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ; kết luận giám định và xác định bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan sai.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Tạ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu T số tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tạ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng, hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 05 phong bì ký hiệu A1, A2, B1, B2, B3;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng N do Nguyễn Hữu T thu lời bất chính mà có.
  • - Tạm giữ số tiền 4.900.000 đồng tiền Ngân hàng N của bị cáo Nguyễn Hữu T để đảm bảo thi hành án.
  • - Hoàn trả cho Nguyễn Hữu T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus được niêm phong trong phong bì ký hiệu E, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Hoàn trả cho chị Thạch Thị H1, sinh năm 1973 01 xe mô tô hiệu Honda Dream BKS: 20F1-226.97
  • - Án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất. Bị cáo Nguyễn Hữu T xin được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2]. Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, đại diện Viện kiểm sát và bị cáo nhất trí về sự vắng mặt của họ. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, quá trình giải quyết vụ án đã có đầy đủ lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Tạ Xuân Đ điều khiển xe mô tô BKS: 20F1-226.97 có hành vi tàng trữ trái phép 0,134 gam chất ma túy loại Heroine, bị cáo Đ khai nhận đã mua của Nguyễn Hữu T, trú tại xóm K, xã Y, huyện Đ với giá 400.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Tạ Xuân Đ nhưng không thu giữ được gì.

Căn cứ lời khai báo của Đ, 11 giờ 00 phút ngày 16/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Hữu T, kết quả: Thu giữ được 07 gói ma túy loại Heroine có trọng lượng 0,242 và 02 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,278 gam.

Thu giữ trong ví của Thật số tiền 4.900.000 đồng tiền Ngân hàng N.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus vỏ màu vàng, số thuê bao 0357.905.758. (niêm phong ký hiệu E).

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu T thuộc trường hợp nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự, cụ thể:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

.........”

Hành vi phạm tội của bị cáo Tạ Xuân Đ thuộc trường hợp nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự, cụ thể:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, H3, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự và bị cáo Tạ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:

[4.1]. Bị cáo Tạ Xuân Đ, Nguyễn Hữu T không có tiền sự là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ và mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; Bị cáo Nguyễn Hữu T có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma tuý, nhưng do hám lời nên vẫn cố tình tiếp tục vi phạm, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Bản thân bị cáo Nguyễn Hữu T cũng là đối tượng nghiện ma túy nên đã mua bán ma túy để kiếm lời và phục vụ nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.

[4.2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Tạ Xuân Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu thêm tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của BLHS.

[5]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi các bị cáo đã thực hiện, qua xem xét, đánh giá toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt thích đáng để răn đe và phòng ngừa tội phạm, mới đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo. Mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đề nghị là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Hữu T bán ma tuý nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

Bị cáo Tạ Xuân Đ bản thân là đối tượng nghiện ma túy miễn hình phạt bổ sung.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với phong bì niêm phong ký hiệu A1, B1, B2 bên trong chứa heroin (là mẫu vật còn lại sau giám định) cần tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với phong bì niêm phong ký hiệu A2, B3 bên trong chứa vỏ giấy gói, hộp nhựa, vỏ túi nilon không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với phong bì niêm phong ký hiệu E bên trong là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus của Nguyễn Hữu T không dùng để liên lạc bán ma túy cho Đ nên trả lại cho bị cáo;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng N do Nguyễn Hữu T thu lời bất chính mà có. Tạm giữ số tiền 4.900.000 đồng tiền Ngân hàng N để đảm bảo thi hành án.
  • - Chiếc xe máy hiệu HONDA DREAM biển kiểm soát 20F1-226.97 do Tạ Xuân Đ sử dụng để đi mua ma túy, tại phiên tòa Đ xác định đây là tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong quan hệ hôn nhân giữa Đ và chị H1, xe đăng ký mang tên của chị H1, Đ lấy xe đi khi chị H1 không có nhà và chị H1 cũng không biết việc Đ dùng xe để phạm tội. Xét thấy, xe máy hiệu HONDA DREAM biển kiểm soát 20F1-226.97 là phương tiện chị H1 dùng để đi lại phục vụ lao động sản xuất và là tài sản duy nhất có giá trị trong nhà, khi bị cáo lấy xe đi chị H1 không biết, nên trả lại cho chị H1 tiếp tục quản lý, sử dụng.

[8]. Xét đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa về hình phạt chính, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma tuý bị cáo T bán cho bị cáo Đ và số ma tuý thu giữ tại nơi ở của bị cáo. Bị cáo khai mua của người đàn ông không biết rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực đường T, TPTN Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ điều tra không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự:

1. Về tội danh:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý
  • + Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/6/2023.
  • Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  • + Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hữu T 7.000.000 đ (bẩy triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
  • - Tuyên bố bị cáo Tạ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • + Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Tạ Xuân Đ 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/6/2023.
  • Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  • + Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Tạ Xuân Đ.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 05 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, B1, B2, B3 (mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ giấy gói, hộp nhựa, vỏ túi nilon);
  • - Trả bị cáo Nguyễn Hữu T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus được niêm phong trong phong bì ký hiệu E.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền bị cáo Nguyễn Hữu T do phạm tội mà có. Tạm giữ số tiền 4.900.000 đồng của bị cáo T để đảm bảo thi hành án.
  • - Hoàn trả chị Thạch Thị H1 01 xe máy hiệu HONDA DREAM biển kiểm soát 20F1-226.97, đăng ký mang tên chị Thạch Thị H1.

Tình trạng vật chứng như tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 16/10/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng, bị cáo Tạ Xuân Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, có mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện Đại Từ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Đỗ Cao Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2023/HSST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 131/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: p.tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” + “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger