TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-8-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thạch Út
- Ông Trần Thành Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 213/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lý Hoàng G, sinh năm: 2000
Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Bùi Thị Bích N, sinh năm: 2004
Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Tạm trú: Số B tổ A, Khu phố F, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 16/4/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn ông Lý Hoàng G trình bày:
- Về hôn nhân: ông và bà Bùi Thị Bích N chung sống từ năm 2020, kết hôn năm 2022, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 14/02/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên cự cãi, không còn hạnh phúc, ông và bà Bùi Thị Bích N không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Hiện nay ông không còn tình cảm với bà Bùi Thị Bích N nên yêu cầu được ly hôn với bà Bùi Thị Bích N.
- Về con chung: có một con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 09/7/2021 hiện đang do ông Lý hoàng G trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lý hoàng G yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà Bùi Thị Bích N nhưng bà Bùi Thị Bích N đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại phiên tòa:
- Ông Lý Hoàng G có đơn xin xét xử vắng mặt, không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện.
- Bà Bùi Thị Bích N vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân ông Lý Hoàng G được quyền ly hôn bà Bùi Thị Bích N, ông Lý Hoàng G được quyền nuôi con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 09/7/2021, bà Bùi Thị Bích N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa ông Lý Hoàng G và bà Bùi Thị Bích N là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: bà Bùi Thị Bích N đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: nguyên đơn ông Lý Hoàng G có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Bùi Thị Bích N đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: ông Lý Hoàng G và bà Bùi Thị Bích N kết hôn năm 2022, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 14/02/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông Lý Hoàng G và bà Bùi Thị Bích N được đoàn tụ, nhưng ông Lý Hoàng G cương quyết ly hôn và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Bà Bùi Thị Bích N vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa chứng tỏ bà Bùi Thị Bích N cũng không có mong muốn được đoàn tụ. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lý Hoàng G.
2.2 Về con chung: ông Lý Hoàng G và bà Bùi Thị Bích N có một con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 09/7/2021 hiện đang do ông Lý Hoàng G trực tiếp nuôi dưỡng, ông G có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Nhận thấy hiện nay cháu Lý Hoàng P còn nhỏ và đang sống ổn định với ông Lý Hoàng G, để tránh làm xáo trộn đời sống, ảnh hưởng đến việc học của cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Lý Hoàng G được quyền nuôi cháu Lý Hoàng P.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông Lý Hoàng G không yêu cầu bà Bùi Thị Bích N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của bà Bùi Thị Bích N.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
[3] Về án phí sơ thẩm: ông Lý Hoàng G là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý Hoàng G.
- Về hôn nhân: ông Lý Hoàng G được ly hôn bà Bùi Thị Bích N.
- Về con chung: ông Lý Hoàng G được quyền nuôi con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 09/7/2021.
Bà Bùi Thị Bích N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí sơ thẩm: ông Lý Hoàng G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004740 ngày 26/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: Ông Lý Hoàng G và bà Bùi Thị Bích N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
