Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải

2. Ông Nguyễn Văn Hợi

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Hưng; Chức vụ: Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
  • - Sinh ngày 16 tháng 01 năm 1991 tại: Thái Nguyên.
  • - Nơi ĐKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1951; Con bà: Phạm Thị C, sinh năm 1957; Gia đình có 04 anh, em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Vũ Thị H, sinh năn 1987; Có 01 con sinh năm 2021.
  • - Tiền án, Tiền sự: Không

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2023). (Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Hồng M, sinh năm 1984 (vắng mặt);
  2. Trú tại: Xóm Đoàn Kết, xã Đào Xá, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

  3. Anh Nguyễn Quyết C1, sinh năm 1985 (vắng mặt);
  4. Trú tại: Xóm X, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 07/9/2023, tổ công tác Công an xã Đ, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường tỉnh lộ 269E thuộc địa phận xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan tới ma túy. Tổ công tác tiếp cận, yêu cầu kiểm tra, người này khai tên Nguyễn Văn T) và tự giác lấy từ trong túi quần sau bên trái đang mặc ra 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng được bọc trong 01 quận giấy vệ sinh. T khai nhận đây là ma túy H1, T mua về cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an xã Đ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ niêm phong vật chứng vào bì thư ký hiệu A theo quy định. Sau đó đưa T cùng vật chứng bàn giao cho Công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền.

Hồi 01 giờ 20 phút ngày 08/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,141 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, niêm phong vào bì thư ký hiệu A1.

Tại bản kết luận giám định số 1113/KL-KTHS ngày 16/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại heroine, có tên khoa học là: Diacetylmrphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/ NĐ-CP ngày 25/8/2022 cuả Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng là: 0,141 gam.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 07/9/2023, T một mình đi đến khu vực cầu K thuộc xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của 1 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine (có đặc điểm nêu trên) với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cất giấu ma túy vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe của một người không quen biết về nhà. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ tại khu vực xóm Đ, xã Đ thì bị tổ công tác của Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu A1, bên ngoài có chữ “hoàn trả 0,128 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu vụ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1991. Phạm tội về ma túy”.

Vật chứng hiện được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện phú B chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKSNDHPB ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện phú B truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phú Bình luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn T từ 27 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,128 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu;

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C2 Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện phú B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ xác định.

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 07/9/2023, tại xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an xã Đ bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,141 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an Đ, huyện P phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Nội dung điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)

c) Herroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện phú B, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân tốt, số lượng ma túy tàng trữ có 0,141 gam, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 27 đến 30 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phú B đề nghị khi luận tội là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,128 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu đây là vật liên quan đến việc phạm tội, nhà nước cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển...nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T và người đàn ông T nhờ trở về sau khi mua ma túy xong, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ để mở rộng, điều tra vụ án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

  1. Xử phạt: Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/9/2023.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Hội đồng xét xử Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS;
  4. - Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,128 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định vụ Nguyễn Văn T, sinh năm 1991.

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 giữa Công an huyện phú B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện phú B).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án /.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - CCTHADS huyện Phú Bình;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TN;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú.
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 131/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thắng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger