|
TÒA ÁN NHÂN DÂN VIỆT NAM THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HS-ST Ngày: 26 - 8 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Văn Nay
Ông Đinh Văn Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thị Thu T, sinh năm 1990, tại Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: tổ D, ấp A, xã S, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ: ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Lê Văn C, sinh năm 1954 và bà Mai Thị T1, sinh năm 1956; Bị cáo có chồng Nguyễn Thành T2, sinh năm 1992 và con là Nguyễn Gia B, sinh năm 2013. Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 10/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 04/2022/QĐ - TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 28/10/2023.
Nhân thân: Ngày 10/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 05/2024/QĐ - TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, thời gian 24 tháng, bị cáo đang chấp hành.
Bị cáo Lê Thị Thu T hiện đang chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, tại ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai từ ngày 19/3/2024 cho đến nay.
- Bị hại: Anh Nguyễn Việt Q, sinh năm 1993.
Nơi đăng ký thường trú: ấp Vĩnh Quới, xã Long Vĩnh, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang
Chổ ở: tổ 2, khu phố 1, phường Xuân Thanh, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1985
Nơi cư trú: số nhà B, đường C, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, bị hại có mặt; và người liên quan có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 15/3/2024, T đến phòng trọ của bạn tại xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, thì có gặp một người đàn ông tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi ngồi nói chuyện thì T mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 60U2-0423 của Q để đi công việc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe đến cửa hàng W tại khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, để mua đồ ăn. Khi chuẩn bị vào cửa hàng, T nhìn thấy bên cạnh có xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B2-307.18, của anh Nguyễn Việt Q, sinh năm 1993, ngụ tại ấp V, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang dựng trên vỉa hè, không có người trông coi. Phía trước xe có treo 01 túi màu cam nên T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Lúc này, T lùi xe lại gần rồi dùng tay phải lấy túi màu cam treo phía trước xe và điều khiển xe về hướng xã B. Trên đường đi đoạn đường vắng, T dừng xe lại kiểm tra thì thấy có 01 laptop nhãn hiệu Asus Vivobook màu bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu vàng đồng và 01 bóp da màu nâu bên trong có 500.000 đồng tiền mặt, cùng một số giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Việt Q. Sau đó, T quay xe chạy ra hướng trung tâm thành phố L để đi bán các tài sản vừa lấy trộm được. Trên đường đi, T ném bỏ túi da màu cam, bóp da đựng giấy tờ vào lề đường, T không nhớ rõ đoạn đường nào. T đến tiệm điện thoại T3, tại số C, T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, T trao đổi với bà Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1985, là chủ tiệm điện thoại, T nói những tài sản này không sử dụng nữa nên bán, gồm 01 laptop, 01 điện thoại với gía 1.900.000 đồng. Số tiền trên, T đã tiêu xài cá nhân hết. Bà T3 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên đã bán các tài sản này cho người khác không rõ nhân thân, lai lịch.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, anh Q ra lấy xe để về thì phát hiện bị mất túi màu cam cùng các tài sản bên trong nên đã kiểm tra hình ảnh ghi lại từ camera quan sát tại cửa hàng W, đồng thời trình báo Công an phường X. Qua xác minh, phát hiện Lê Thị Thu T là đối tượng trộm cắp tài sản của anh Q. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/HĐĐGTSTTTHS ngày 12/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận:
+ Một (01) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A415 EA i5, màu bạc, đã qua sử dụng, chưa thu hồi được tang vật (thời điểm ngày 15/3/2024), có giá trị: 10.826.757 đồng.
+ Một (01) điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu vàng, một (01) bóp da màu nâu, các tài sản trên đã qua sử dụng, không có hóa đơn, chứng từ mua bán liên quan đến tài sản, chưa thu hồi được tang vật. Do đó, Hội đồng định giá không có cơ sở để xác định tỷ lệ, giá trị còn lại của tài sản để định giá theo yêu cầu của cơ quan điều tra.
* Về thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình tra cứu, xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định được biển số xe 60U2-0423, nhãn hiệu Yamha, loại Sirius, chủ xe là ông Trần Văn R, sinh năm 1962, ngụ tại tổ G, khu phố A, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, tuy nhiên, ông R khai đã bán cho người khác từ lâu, không nhớ thông tin và không làm giấy tờ mua bán. Bị cáo T không biết nhân thân, lai lịch của người tên Q đã cho T mượn xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật hành chính.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Việt Q yêu cầu bị cáo T bồi thường 20.000.000 đồng, bị cáo T đồng ý nhưng chưa có khả năng bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số: 128/CT-VKSLK ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Lê Thị Thu T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận.
* Bị hại trình bày: tôi thống nhất với toàn bộ sự việc được ghi nhận trong nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, dù giá trị tài sản định giá chỉ hơn 10.000.000 đồng nhưng những tài liệu liên quan đến công việc làm ăn của tôi trong máy tính không thể nào khắc phục được ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của tôi trong thời gian dài, nên tôi yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng dù thiệt hại tôi lớn hơn nhiều, tôi cũng mong rằng sau này bị cáo nên chí thú làm ăn chân chính đừng đi trộm cắp tài sản, vi phạm pháp luật nữa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu T 06 tháng đến 10 tháng tù giam.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Q yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản số tiền là 20.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên chấp nhận.
* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người liên quan vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, tại cửa hàng W, thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Lê Thị Thu T đã lén lút lấy trộm 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A415 EA i5, màu bạc, trị giá 10.826.757 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu vàng đồng và 01 bóp da màu nâu bên trong có 500.000 đồng tiền mặt, cùng một số giấy tờ tùy thân của anh Nguyễn Việt Q, tổng tài sản anh Q bị chiếm đoạt là 11.326.757 đồng.
Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị Thu T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo:
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm, bị cáo vừa chấp hành xong biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 28/10/2023, bị cáo biết rất rõ những tác hại của ma túy nhưng bị cáo không từ bỏ, không tìm kiếm cho mình công việc để nuôi sống bản thân, để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng mà không cần phải lao động, bị cáo đã bất chấp tất cả, dấn thân vào con đường phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng mức án nghiêm buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Từ ngày 19/3/2024 cho đến nay bị cáo Lê Thị Thu T đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy sau khi xét xử Tòa án sẽ thông báo cho Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai biết về loại hình phạt và mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo T. Trên cơ sở đó Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai sẽ thực hiện các quyết định tiếp theo đối với thời gian cai nghiện của bị cáo theo quy định tại Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính.
[6] Về đối tượng có liên quan trong vụ án: Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc T3, là người đã mua tài sản do T trộm cắp mang đến bán. Khi mua điện thoại chị T3 không biết tài sản do T phạm tội mà có nên chưa đủ cơ sở xử lý chị T3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[7] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Anh Q yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản số tiền là 20.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên chấp nhận.
Đối với xe mô tô Yamaha Sirius; biển số 60U2-0423, hiện chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thu T 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án (ngày 26-8-2024). Quyết định bắt, tạm giam bị cáo Lê Thị Thu T tại phiên tòa ngay sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ Luật hình sự; Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lê Thị Thu T phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh Nguyễn Việt Q số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Trường |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu Thủy Trộm cắp tài sản
