Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
  • Ông Trịnh Hồng Hải
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Q. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07 tháng 11 năm 1995 tại: TP Đà Nẵng; Nơi ĐKTT và C ở hiện nay: K190/36 N, tổ C, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con ông: Phạm Văn Q1 (sinh năm 1965) và bà: Ngô Thị L (sinh năm 1968), đều còn sống;

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 05/01/2024 bị Công an quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000đ;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Văn Q1, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1968; cùng nơi cư trú: Số K đường N, tổ C, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Ông Q1 có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số K đường H, tổ F, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn Q1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số K đường N, tổ C, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Người bào chữa: Luật sư Hồ Văn H, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ; địa chỉ liên hệ: Số D đường L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Người phiên dịch: Bà Nguyễn Thị Hồng T; Địa chỉ liên hệ: Tổ D phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19h45′ ngày 15/02/2024, Phạm Văn Q (người khuyết tật nặng) sử dụng xe đạp hiệu Bridgeston màu trắng đi lòng vòng trên trên tuyến đường tại thành phố Đà Nẵng để tìm tài sản trộm cắp. Khi Q đi ngang qua nhà K đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện trong nhà lúc này không có người nên Q dừng xe đi vào sân nhà thì thấy cửa nhà K không khóa nên Q mở cửa lẻn vào bên trong nhà để tìm tài sản lấy trộm. Khi vào bên trong nhà K, Q thấy trên kệ tủ bên trái gần cửa ra vào của nhà có 02 máy tính bảng hiệu Ipad, Q lấy 01 máy tính bảng rồi rời đi và đem tài sản vừa lấy trộm đến cầm tại một cửa hàng trên đường T (không xác định địa chỉ) với giá 1.000.000đ. Số tiền trên, sau đó Q cho người tên T1 (chưa xác định lai lịch) là bạn ngoài xã hội của Q mượn, hiện tài sản không thu hồi được. Đến khoảng 20h30' cùng ngày, Phạm Văn Q quay trở lại nhà K đường H và lấy máy tính bảng hiệu Ipad còn lại rồi đem máy tính bảng trên về nhà cất giấu để sử dụng. Đến 21h30' cùng ngày, bà Nguyễn Thị Kim Đ là chủ nhà K đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng sau khi đi chơi về thì phát hiện 02 chiếc máy tính bảng hiệu Ipad của bà để trên kệ tủ bên trái trong nhà K H, quận T, thành phố Đà Nẵng bị kẻ gian lấy mất nên kiểm tra lại dữ liệu camera tại nhà thì phát hiện một người thanh niên mang mũ màu cam, mặc áo màu xanh dương đã đột nhập vào nhà lúc 20h05' và 20h30' lấy đi 02 máy tính bảng trên; sau đó bà Đ đến Công an phường C trình báo, đồng thời giao nộp đoạn video ghi lại toàn bộ sự việc.

Quá trình điều tra, truy xét, Cơ quan công an phát hiện Phạm Văn Q có biểu hiện nghi vấn nên triệu tập Q về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Phạm Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T xác định 02 chiếc máy tính bảng hiệu Ipad có giá trị là: 13.400.000₫ (Mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng) trong đó: 01 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 8 có giá trị: 5.100.000₫ và 01 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 10 có giá trị: 8.300.000đ. Tổng giá trị tài sản Phạm Văn Q trộm cắp là 13.400.000₫

Tại bản cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn Q và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48, Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Phạm Văn Q và người đại diện theo pháp luật của Phạm Văn Q là ông Phạm Văn Q1 (cha ruột) và bà Ngô Thị L (mẹ ruột) bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Đ số tiền 8.300.000đ.
  • Ngoài ra, còn đề xuất xử lý về tiền án phí.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Q dưới sự chứng kiến của Luật sư, người phiên dịch, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lúc 19h45' và 20h30' ngày 15/02/2024, tại nhà số K H, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Phạm Văn Q (người khuyết tật nặng) lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị Kim Đ đã lén lút trộm cắp 02 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 8 và I 10. Tổng giá trị tài sản bị cáo Phạm Văn Q trộm cắp là 13.400.000đ (Mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T xác định 02 chiếc máy tính bảng hiệu Ipad có giá trị là:13.400.000đ trong đó: 01 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 8 có giá trị: 5.100.000₫ và 01 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 10 có giá trị: 8.300.000đ.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1060/KLGÐ ngày 24/6/2024 của Trung tâm P kết luận: “tại thời điểm trước, trong, sau khi phạm tội và tại thời điểm hiện tại: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, có tật chứng tác phong không đáng kể, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi”

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 30/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và có tài sản để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo Q đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị Kim Đ lén lút trộm cắp tài sản của bà Đ. Xét về động cơ mục đích phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội chỉ mang tích chất tức thời, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo Q nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi ích trước mắt, bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, hành vi của bị cáo Q thể hiện sự xem thường pháp luật, bản thân bị cáo Q có nhân thân xấu, trước đó vào ngày 05/01/2024 bị cáo bị Công an quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000đ, đang trong thời gian bị xử phạt hành chính bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người khuyết tật nặng, bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim Đ đã nhận lại 01 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 8, tiếp tục yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại 01 máy tính bảng chưa thu hồi được với số tiền là 8.300.000đ. Căn cứ Điều 48, Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Q và người đại diện theo pháp luật của Q là ông Q1 (cha ruột) và bà L (mẹ ruột) bồi thường cho bà Đ số tiền 8.300.000₫.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 xe đạp màu trắng hiệu Bridgestone. Qua xác minh xe đạp trên là của ông Phạm Văn Q1 là cha ruột của bị cáo Q. Ông Q1 cho bị cáo Q mượn xe đạp màu trắng hiệu Bridgestone để sử dụng tuy nhiên không biết việc bị cáo Q sử dụng xe trên vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 1048 ngày 05/8/2024 trả lại tài sản trên cho ông Phạm Văn Q1 là phù hợp.
  • - 01 máy tính bảng hiệu Ipad Gen 8, số máy MYLD2ZA/A, seri: DMMPDLJNDQ1GG, màu xám, ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 848 trả lại tài sản trên cho bà Nguyễn Thị Kim Đ là có cơ sở.
  • - Tiếp tục quy trữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 02 đoạn video ghi lại nội dung diễn biến xảy ra vụ án và 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video về hỏi cung bị cáo có thực hiện ghi âm ghi hình có âm thanh.

[7] Về vấn đề khác: Đối với người tên T1 là người được bị cáo Q cho mượn số tiền 1.000.000đ, số tiền này bị cáo Q khai do việc thực hiện hành vi phạm tội mà có, hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch của T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với ông Phạm Văn Q1 là cha ruột của bị cáo Q, ông Q1 cho bị cáo Q mượn xe đạp màu trắng hiệu Bridgestone để sử dụng tuy nhiên không biết việc bị cáo Q sử dụng xe trên vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm khoản p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Căn cứ Điều 48, Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Phạm Văn Q và người đại diện theo pháp luật của bị cáo Q là ông Phạm Văn Q1 (cha ruột) và bà Ngô Thị L (mẹ ruột) bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Đ số tiền 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 415.000đ (Bốn trăm mười nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê;
  • - Viện KSND Tp Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự quận Thanh Khê;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Bảo Huyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 131/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger