|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 131/2024/DS-ST Ngày 24 – 9 – 2024 V/v Tranh chấp vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Sơn Thị Kim Lương
- Bà Bành Mỹ Tuyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh– Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Vũ T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số G, Khóm H, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quang C, sinh năm 1964; địa chỉ: Số H, đường T, Khóm D, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm H, sinh năm 1965; địa chỉ: Số A, đường H, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông T có mặt;ông C vắng mặt; bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2024 và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Ngô Vũ T, người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Quang C trình bày:
Vào ngày 22 tháng 4 năm 2024, do có quen biết nên ông Ngô Vũ T cho bà Huỳnh Thị Cẩm H vay số tiền tổng cộng là 850.000.000 với lãi suất thỏa thuận là 1,66%/tháng, thời hạn trả là đến ngày 12/5/2024. Ông tâm cung cấp sao kê ngân hàng nội dung các lần giao dịch số tiền cho vay cụ thể gồm:
Vào lúc 16 giờ 08 phút 30 giây ngày 22/4/2024 ông T chuyển cho bà H vay 300.000.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng TMCP Đ, số tài khoản thụ hưởng 7850477164, mã giao dịch 210427780;
Lúc 08 giờ 44 phút 06 giây ngày 23/4/2024 ông T chuyển cho bà H vay 300.000.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng TMCP Đ, số tài khoản thụ hưởng 7850477164, mã giao dịch 210585704;
Lúc 09 giờ 55 phút 07 giây ngày 24/4/2024 ông T chuyển cho bà H vay 200.000.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng TMCP Đ, số tài khoản thụ hưởng 7850477164, mã giao dịch 210882788;
Lúc 10 giờ 20 phút 39 giây ngày 24/4/2024 ông T chuyển cho bà H vay 50.000.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng TMCP Đ, số tài khoản thụ hưởng 7850477164, mã giao dịch 210890849.
Đến ngày 06/5/2024, bà Huỳnh Thị Cẩm H viết biên nhận nợ đề “Giấy xác nhận” và ký tên nội dung bà H có mượn của ông T số tiền 850 triệu đồng, và hứa đến ngày 12/5/2024 sẽ hoàn trả lại. Tuy nhiên khi đến ngày 12/5/2024 là ngày hết thời hạn vay tiền nhưng bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Tại dơn khởi kiện, ông T yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm H trả số tiền 850.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/4/2024 đến ngày khởi kiện vụ án là 10.38.000 đồng, tổng cộng là 860.389.000 đồng và tiền lãi đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án và trong giai đoạn thi hành án.
Vào ngày 14/8/2024, đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Vũ T là ông Phạm Quang C rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi, chỉ yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật đối với số tiền vay 850.000.000 đồng từ ngày bà Huỳnh Thị Cẩm H vi phạm thời hạn trả nợ là ngày 12/5/2024 đến ngày xét xử vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến ba H về yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Ngô Vũ T giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người làm chứng. Ông T xác định đồng ý nay chỉ yêu cầu bà H trả tiền vay 850.000.000 đồng vốn và yêu cầu trả tiền lãi từ ngày 12/5/2024 đến ngày xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân. Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà H là đúng quy định. Vì vậy về tố tụng Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
- Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã cung cấp được biên nhận vay tiền của bị đơn và bản sao kê giao dịch tài khoản ngân hàng tương ứng với các khoản vay. Kết luận giám định đúng chữ ký, chữ viết của bị đơn nên có căn cứ xác định bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H có vay tiền của ông Ngô Vũ T, nay bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số nợ nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vũ T, buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H có trách nhiệm trả cho ông Ngô Vũ T số tiền 850.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 12/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án với mức lãi suất 10%/năm. Đình chỉ phần tiền lãi 10.389.000 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.
Bà Huỳnh Thị Cẩm H còn phải chịu án phí, chi phí giám định theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ông Ngô Vũ T khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm H trả tiền vay, bà H có nơi thường trú tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên đây là tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: bị đơn từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã không tống đạt được các văn bản tố tụng trực tiếp cho bị đơn do không có mặt tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Tại Biên bản xác minh chính quyền địa phương ngày 14/8/2024 xác định bà Huỳnh Thị Cẩm H, sinh năm 1965 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số A, đường H, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhưng từ tháng 1/2024 bà H bỏ nhà đi, không biết đi đâu; nên nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ, đúng địa chỉ nơi cư trú bị đơn theo quy định. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đây được coi là bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vũ T
[3.1] Về tiền vốn: Ông T yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm H trả lại cho ông T số tiền nợ gốc là 850.000.000 đồng. Ông T cung cấp sao kê ngân hàng thể hiện giao dịch chuyển khoản số tiền phù hợp với tiền gốc yêu cầu và cung cấp 01 biên nhận nợ đề “Giấy xác nhận” ngày 06/5/2024 do bà Huỳnh Thị Cẩm H viết và ký tên. Ông T xác định biên nhận được bà H tự viết và ký tên vào biên nhận vào ngày 06/5/2024. Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt và không rõ lý do, nên không có ý kiến của bà H đối với yêu cầu khởi kiện của ông T nên căn cứ quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nguyên đơn có nghĩa vụ phải chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp.
[3.2] Về giám định chữ ký, chữ viết: Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ và yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết đối với biên nhận có chữ ký, chữ viết bà Huỳnh Thị Cẩm H để làm cơ sở giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, đại diện Ủy ban nhân dân Phường C1, thành phố B xác định bà Huỳnh Thị Cẩm H là công chức của cơ quan từ tháng 5 năm 1985 đến tháng 6 năm 2010, hiện tại bà H đã nghỉ việc và cung cấp mẫu chữ ký, chữ viết của bà H cho Tòa án. Tại kết luận giám định số 72/KL-KTHS ngày 01/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định chữ viết tại biên nhận ngày 06/5/2024 của bị đơn Huỳnh Thị Cẩm H với chữ viết bà Huỳnh Thị Cẩm H tại văn bản của Ủy ban nhân dân Phường C1, thành phố B là cùng một người viết ra. Như vậy, có căn cứ xác định giữa ông Ngô Vũ T và bà Huỳnh Thị Cẩm H là có phát sinh giao dịch vay tiền trên thực tế theo biên nhận nợ và bà H có nghĩa vụ trả tiền vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H trả cho ông Ngô Vũ T số tiền vay gốc là 850.000.000 đồng.
[3.3] Về tiền lãi: Xét thấy Tại biên nhận nợ đề ngày 06/5/2024 của bà Huỳnh Thị Cẩm H không xác định rõ về lãi suất cho vay, nay nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật căn cứ Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên vay “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”.. Do đó, Hội đồng có căn cứ chấp nhận mức lãi suất 10%/năm là phù hợp.
Xét thấy, kể từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ngày 12/5/2024 thì phải chịu lãi suất của khoản tiền vay đến hạn như rên. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn từ ngày 12/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án là ngày 24/9/2024 là 04 tháng 12 ngày với số tiền lãi của khoản tiền vay gốc 850.000.000 đồng. Tiền lãi tính được là 850.000.000 đồng x 10%/năm x 04 tháng 12 ngày = 31.166.664 đồng.
[4] Đối với số tiền lãi 10.389.000 đồng nguyên đơn rút yêu cầu, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận và đình chỉ.
[4] Về chi phí giám định: Việc giám định chữ ký, chữ viết đã được kết luận là chữ viết của bị đơn Huỳnh Thị Cẩm H nên bị đơn có nghĩa vụ phải chịu chi phí giám định. Nguyên đơn ông Ngô Vũ T đã tạm ứng tiền và chi hết cho việc giám định, nên buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 8.002.000 đồng
[5] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Cẩm H có nghĩa vụ trả cho Ngô Vũ T tổng số tiền là 850.000.000 đồng +31.166.664 đồng= 881.166.664 đồng nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 36.000.000 + 3% (881.166.664 – 800.000.000)= 38.434.999 đồng.
Nguyên đơn là ông Ngô Vũ T được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án phí, ông T đã nộp 18.906.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002793 ngày 05/6/2024, nay được hoàn lại toàn bộ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vũ T đối với số tiền lãi 10.389.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vũ T.
Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H có trách nhiệm hoàn trả cho ông Ngô Vũ T số tiền nợ là 881.166.664 đồng (T1 trăm tám mươi mốt triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bốn đồng).
- Về chi phí giám định: Nguyên đơn ông Ngô Vũ T đã tạm ứng tiền và chi hết cho việc giám định, nên buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 8.002.000 đồng (Tám triệu không trăm lẻ hai ngàn đồng)
Kể từ ngày có đơn thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khỏan 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm H có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 38.434.999 đồng (Ba mươi tám triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn chín trăm chín mươi chín đồng).
Ông Ngô Vũ T không phải chịu án phí, ông T đã nộp 18.906.000 đồng (Mười tám triệu chín trăm lẻ sáu ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002793 ngày 05/6/2024, nay được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
5. Án xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chi |
Bản án số 131/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp vay tài sản
- Số bản án: 131/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vũ Tâm đối với số tiền lãi 10.389.000 đồng. 2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vũ Tâm. Buộc bà Huỳnh Thị Cẩm Hồng có trách nhiệm hoàn trả cho ông Ngô Vũ Tâm số tiền nợ là 881.166.664 đồng (Tám trăm tám mươi mốt triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bốn đồng).
