Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HS-ST

Ngày 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Bà Nguyễn Ngọc Cúc
  • + Bà Trần Mỹ Ngọc

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Bùi Thanh B, sinh năm 1999, tại: An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh Sáu N (còn sống) và bà Lê Thị C (còn sống); có vợ Phạm Huỳnh Đ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 24/5/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/02/2024, chuyển tạm giam cho đến nay (Có mặt).

2. Trần Tuấn K, sinh năm 1978, tại Bình Phước, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Kp N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q (đã chết) và bà Trần Thị T (còn sống); có vợ Dương Thị Bích T1 và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/02/2024, chuyển tạm giam cho đến nay (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đặng Văn H, sinh năm 1973; nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Phương N1, Nguyễn Thế B1 là bạn bè quen biết nhau từ trước. N1B1 biết được nhu cầu người dân sử dụng pháo dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, nên nảy sinh ý định buôn bán pháo kiếm lời. Khoảng đầu tháng 01/2024, N1B1 thống nhất thuê Bùi Thanh B làm nhiệm vụ dẫn đường và canh chừng lực lượng Công an, Nguyễn Minh H1 nhận pháo và khiêng pháo từ trên xe ô tô xuống điểm tập kết, giá thuê BH1 mỗi lần vận chuyển 2.000.000 đồng/ người, BH1 đồng ý. Sau đó N1 chủ động liên hệ trao đổi thống nhất với đối tượng Tý N2 (không rõ họ, địa chỉ) tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước về cách thức mua bán, vận chuyển, bàn giao pháo hoa nổ. Tý N2 điện thoại thuê Trần Tuấn K điều khiển xe ô tô Chevrolet biển số 93A-011.00 và đối tượng K1 (không rõ họ và địa chỉ) chở pháo nổ từ huyện L, tỉnh Bình Phước đến xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai giao cho N1B1, cước phí vận chuyển Tý N2 trả cho K 2.500.000 đồng/chuyến.

Khoảng 23 giờ ngày 04/02/2024, K điều khiển xe ô tô hiệu Chevrolet biển số 93A-011.00 đến khu vực vườn cao su gần bến xe L, tỉnh Bình Phước gặp Tý N2K1 đưa 06 bao pháo hoa lên xe ô tô, rồi K điều khiển xe chở pháo về tỉnh Đồng Nai theo chỉ dẫn của K1. Khoảng 02 giờ ngày 05/02/2024, xe Kiệt điều khiển đến cầu Thủ Biên nối giữa Bình Dương - Đồng Nai thì K1 xuống xe và nói sẽ có người dẫn đường đi tiếp. Lúc này N1 gọi điện thoại trên ứng dụng zalo cho K hướng dẫn và chỉ đường. Cùng thời điểm này, Nguyễn Thế B1 điều khiển xe mô tô biển số 60H1-356.36, Nguyễn Minh H1 điều khiển xe mô tô biển số 68C1-456.10 chở B đến địa điểm tập kết giao nhận pháo. Khi xe K điều khiển đến khu vực ngã ba rẽ vào đường bê tông thì B đứng đón xe và dẫn đường đến nơi xuống hàng. B đứng ngoài canh chừng lực lượng Công an, còn B1H1 khiêng 06 bao tải đựng pháo hoa từ xe ô tô của K xuống bãi đất trống cạnh đường bê tông kênh N3 thuộc ấp C, xã T, huyện V thì bị lực lượng Cảnh sát hình sự Công an huyện V phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Tuấn K, Bùi Thanh B. Riêng Nguyễn Thế B1, Nguyễn Minh H1 chạy thoát khỏi hiện trường.

Tang vật thu giữ:

  • - 76 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 16cm x 16cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ A8426 (nghi là pháo nổ).
  • - 05 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 23,5cm x 23,5cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ KS4-10011 (nghi là pháo nổ).
  • - Thu giữ của Bùi Thanh B: 01 điện thoại di động iPhone 7.
  • - Thu giữ của Trần Tuấn K: 5.200.000 đồng, 01 điện thoại di động Oppo A55, 01 điện thoại di động Oppo K3.
  • - Thu giữ tại hiện trường: xe ô tô biển số 93A-011.00 (do Trần Tuấn K điều khiển); xe mô tô biển số 68C1-456.10; xe mô tô biển số 60H1-356.36 (do H1B1 điều khiển).

Tại Kết luận giám định số 1383/KL-KTHS, ngày 06/02/2024 của Giám định viên V tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Tất cả mẫu vật gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 133kg.

- Hoàn lại mẫu vật sau giám định trong niêm phong ngày 06/02/2024.

Quá trình điều tra cũng như quá trình xét xử, các bị cáo không có ý kiến gì về Bản kết luận giám định của Công an tỉnh Đ.

- Kết quả xác minh xác định nguồn gốc phương tiện tạm giữ như sau:

  • + Xe ô tô hiệu Chevrolet biển số 93A-011.00 do ông Đặng Văn H đứng tên Chứng nhận đăng ký. Ngày 04/02/2024, K mượn xe ô tô và nói với ông H mục đích chở khách đi Đồng Nai. K sử dụng ô tô làm phương tiện vận chuyển pháo nổ ông H không biết.
  • + Xe mô tô biển số 68C1-456.10 do Nguyễn Minh H1 là chủ sở hữu (Bút lục số 141).
  • + Xe mô tô biển số 60H1-356.36 do Trần Thị T, sinh năm 2002, địa chỉ tổ A, ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên đăng ký. Hiện chị T không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được (Bút lục số 143, 146).

Về xử lý tang vật và phương tiện tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại xe ô tô hiệu Chevrolet biển số 93A-011.00 cho ông Đặng Văn H.

Quá trình điều tra Trần Tuấn K, Bùi Thanh B còn khai nhận: ngoài hành vi phạm tội nêu trên, vào khoảng đầu tháng 01/2024 K được đối tượng T2 Nương thuê vận chuyển 02 thùng caton đựng pháo hoa nổ từ huyện L, tỉnh Bình Phước về giao cho N1 và đồng bọn tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên ngoài lời khai của KB thì không có tài liệu khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ khởi tố xử lý về hành vi này. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật. (Bút lục số 87-89; 68-69)

Đặng Phương N1, Nguyễn Thế B1Nguyễn Minh H1 đã bỏ trốn trong giai đoạn điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ban hành quyết định truy nã và tách vụ án hình sự để tiếp tục truy bắt, làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 137/CT-VKSVC ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố:

  • + Bị cáo Bùi Thanh B về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • + Bị cáo Trần Tuấn K về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Bị cáo Bùi Thanh B: áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, đề nghị xử phạt 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024.
  • + Bị cáo Trần Tuấn K: áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 (phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự) Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, đề nghị xử phạt: 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024.
  • + Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • . Tịch thu, tiêu hủy số pháo hoa được niêm phong ngày 05/02/2024.
    • . Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A55; 01 điện thoại di động iPhone 7.
    • . Giao trả cho Trần Tuấn K 01 điện thoại di động Oppo K3 và 5.200.000 đồng.
    • . Đối với xe mô tô biển số 68C1-456.10; 01 xe mô tô biển số 60H1-356.36: Cơ quan Cảnh sát Điều tra huyện V tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • + Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng.

  • + Bị cáo Bạo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm về chăm lo cho con.
  • + Bị cáo K: Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên bị cáo không có việc làm, gần tết, bị cáo không có tiền lo cho gia đình nên mới thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm về chăm sóc 02 con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 05/02/2024, Tý N2 sau khi trao đổi, thống nhất bán pháo hoa nổ cho Đặng Phương N1, Nguyễn Thế B1. Tý Nương thuê Trần Tuấn K điều khiển xe ô tô biển số 93A-011.00 chở 133 kg pháo hoa nổ từ huyện L, tỉnh Bình Phước đến xã T, huyện V giao pháo. N1B1 thuê Bùi Thanh B canh chừng lực lượng Công an, Nguyễn Minh H1 nhận và khiêng pháo từ xe ô tô xuống điểm tập kết. Khi B đang canh chừng lực lượng Công an, để B1 cùng H1 khiêng 06 bao tải đựng pháo hoa do K giao tại địa điểm bãi đất trống cạnh đường bê tông kênh N3 thuộc ấp C, xã T, huyện V thì bị lực lượng Công an huyện V phát hiện bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Tuấn K, Bùi Thanh B, còn Nguyễn Thế B1, Nguyễn Minh H1 chạy thoát khỏi hiện trường.

Theo Nghị định 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng pháo thì các hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển pháo nổ của các cá nhân là hành vi bị nghiêm cấm.

Bị cáo Bùi Thanh B giúp sức cho Đặng Phương N1, Nguyễn Thế B1 với vai trò đồng phạm giúp sức buôn bán hàng cấm là pháo nổ (pháo hoa nổ) có khối lượng 133 kilôgam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Trần Tuấn K thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm là pháo nổ (pháo hoa nổ) có khối lượng 133 kilôgam nên hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý một số hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh. Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo Bùi Thanh B có nhân thân đã bị xử phạt hình phạt tù nhưng phạm tội không phải do lỗi cố ý, phạm tội khi dưới 18 tuổi nên không xem xét bị cáo có nhân thân xấu. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo thu lợi do hành vi phạm tội với số tiền nhỏ, vai trò thứ yếu nên xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, để các bị cáo cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng, làm công dân có ích cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả xe trả lại xe ô tô hiệu Chevrolet biển số 93A-011.00 cho ông Đặng Văn H là đúng quy định của pháp luật.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu, tiêu hủy số pháo nổ được niêm phong ngày 05/02/2024.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A55; 01 điện thoại di động iPhone 7.
  • + Trả cho Trần Tuấn K 01 điện thoại di động Oppo K3 và 5.200.000 đồng.
  • + Giao Cơ quan Cảnh sát Điều tra huyện V: xe mô tô biển số 68C1-456.10; 01 xe mô tô biển số 60H1-356.36 để xử lý theo thẩm quyền.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý đối với các đối tượng buôn bán hàng cấm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1 Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Bùi Thanh B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024.

1.2 Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu, tiêu hủy số pháo nổ được niêm phong ngày 05/02/2024.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A55; 01 điện thoại di động iPhone 7.
  • + Trả cho Trần Tuấn K 01 điện thoại di động Oppo K3 và 5.200.000 đồng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/9/2024 và Biên lai thu tiền số 0004332 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đặng Văn H vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ
  • liên quan đến vụ án;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an
  • huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự
  • huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • huyện Vĩnh Cửu;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 131/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thanh B + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger