Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỐNG NHẤT

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 131/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan

Ông Nguyễn Thành Lam

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lại Quang V, sinh năm 2000, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Số E, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Lại Hoàng Thế P, sinh năm 1976 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 10/02/2023 đến nay (Có mặt).

2. Họ và tên: Hoàng Thanh Q, sinh năm: 1992, tại tỉnh Đồng Nai. CCCD số [...]. Nơi cư trú: Ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Hoàng Thái V1, sinh năm 1970 và con bà Hoàng Mộng T1, sinh năm 1973; Có vợ Phạm Thị Hồng D, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 10/02/2023 đến nay.

3. Họ và tên: Phan Châu Q1, sinh năm: 1991, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Phan Châu V2, sinh năm 1965 và con bà Trương Thị Kim N, sinh năm 1963 (đã chết); Có vợ Phạm Hoàng Yến V3, sinh năm 1993 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 10/02/2023 đến nay.

4. Họ và tên Nguyễn Vũ Phạm D1, sinh năm: 1999, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Anh D2, sinh năm 1971 và con bà Phạm Thị Thanh T2, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 24/09/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2021; Về án phí HSST chấp hành xong ngày 24/05/2021.

Tiền sự: Ngày 25/10/2016 bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi vi phạm hành chính “Xâm hại sức khỏe người khác”, Nguyễn Vũ Phạm D1 chưa đóng tiền phạt.

Nhân thân: Ngày 23/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 03/3/2018; Về án phí HSST chấp hành xong ngày 19/04/2017.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 10/02/2023 đến nay.

(Các bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 ngày 10/02/2023, tại nhà Nguyễn Kim H, sinh năm 1995; trú tại: ấp Đ, xã G, T, Đồng Nai. Công an huyện T kiểm tra, phát hiện Nguyễn Kim H, Phan Châu Q1 (sinh năm:1991; trú tại: ấp D, xã G, T, Đồng Nai), Lại Quang V (sinh năm: 2000; trú tại: ấp G, xã G, T, Đồng Nai) và Hoàng Thanh Q (sinh năm: 1992; trú tại: ấp D, xã G, T, Đồng Nai) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên phía tay trái H đang ngồi, 01 cân điện tử trên hộp công tắc điện, 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) trong hộp công tắc điện.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 13 giờ ngày 10/02/2023, tại nhà của Nguyễn Kim H thuộc ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, H rủ V cùng góp tiền mua ma túy về sử dụng (H góp 200.000 đồng chuyển khoản ứng dụng Momo, V góp 400.000 đồng, tổng là 600.000 đồng), Nguyễn Kim H dùng ứng dụng Zalo trên điện thoại gọi cho Hoàng Thanh Q nhờ Q mua 600.000 đồng ma túy đá, đồng thời Lại Quang V chuyển 600.000 đồng vào số tài khoản 0913717179, ngân hàng M1 mang tên Hoàng Thanh Q. Sau đó, Q gọi điện thoại cho Nguyễn Vũ Phạm D1 hỏi mua 600.000 đồng ma túy, D1 đồng ý và gọi điện cho đối tượng tên “tèo” (không rõ nhân thân lai lịch) để mua 600.00 đồng ma túy về bán lại cho Q. Nguyễn Vũ Phạm Dương hẹn Q2 đến Đường mùng 4 tết (xã G) để lấy ma túy. Hoàng Thanh Q điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade biển số 54H1 – 7961 chở Phan Châu Q1 đi lấy ma túy. Khi lấy được ma túy, Q và Q1 đến nhà H, Q1 đưa ma túy cho H, H lấy ra ½ túi ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng do H chuẩn bị sẵn, để H, V, Q, Q1 và N1 cùng sử dụng chung, Trần Bảo N2 không biết ai mua ma túy và cũng không có ai rủ N2 sử dụng, nhưng khi Nguyễn Kim H bỏ ma túy ra dụng cụ thì N2 có sử dụng một ít rồi đi vào phòng ngủ, ½ túi ma túy còn lại H cất giấu vào bên trong hộp công tắc điện tại phòng khách. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện T tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng Nguyễn Kim H, Lại Q, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và niêm phong tang vật thu giữ theo quy định. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tratiến hành xác minh, thực hiện giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Vũ Phạm D1, qua làm việc D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình. Tiến hành test nhanh chất ma túy trong cơ thể các đối tượng đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Căn cứ Kết luận giám định số: 263/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng K, Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1121 gam, loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn Kim H, Lại Q, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ Kết luận giám định số 263/KLGĐ-PC09 ngày 17/02/2023 của Phòng K, Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, mẫu dạng vết không xác định được có khối lượng: 0,0846gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng có khối lượng: 0,0846 gam, M do Phòng K Công an tỉnh Đ hoàn lại theo Kết luận giám định số 263/KLGĐ-PC09 ngày 17/02/2023.
  • - 01 điện thoại Oppo, màu xanh của Hoàng Thanh Q, 01 điện thoại SamSung J7, màu đen xám của Lại Quang V, 01 điện thoại Redmi, màu đen của Nguyễn Vũ Phạm D1 sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Đối với số tiền 600.000 đồng Lại Quang V chuyển vào số tài khoản 0913717179, ngân hàng M1 mang tên Hoàng Thanh Q, nhờ Q mua ma túy, bà Hoàng Thị Mộng T3 (mẹ của bị can Hoàng Thanh Q), sinh năm 1973, ngụ tại ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã rút ra và giao nộp.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất và Công an huyện T và Biên lai thu tiền số 0005548 ngày 31/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).
  • - 01 Ipad màu trắng của Hoàng Thanh Q, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 của Phan Châu Q1, qua kiểm tra không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6 Plus là của Trần Bảo N2 – bạn gái Nguyễn Kim H, qua điều tra xác định N2 không biết H lấy điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu.
  • - 01 cân điện tử thu giữ của Nguyễn Kim H, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade biển số 54H1 – 7961 đứng tên đăng ký Trần Ái T4, sinh năm 1976, trú tại 1, đường N, phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chị Trần Ái T4 đã xuất ngoại và định cư tại Mỹ từ năm 2019, hiện nay không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Quá trình điều tra Nguyễn Kim H, Lại Quang V4, Hoàng Thanh QPhan Châu Q1Nguyễn Vũ Phạm D1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 29/8/2023, Toà án nhân dân huyện Thống Nhất đã xử phạt Nguyễn Kim H 08 (tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Hiện Nguyễn Kim H đang chấp hành án theo Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 và Quyết định thi hành án hình phạt tù số 46/2023/QĐ-CA ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

Tại cáo trạng số 99/CT-VKS-TN ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố bị cáo Lại Quang V4, Hoàng Thanh QPhan Châu Q1 về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Phạm D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Xử phạt Lại Quang Vinh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt Phan Châu Q1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 08 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 năm đến 08 năm 09 tháng tù.
  • - Xử phạt Hoàng Thanh Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt Nguyễn Vũ Phạm D1 từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều traCông an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 13 giờ ngày 10/02/2023, Nguyễn Kim H góp 400.000 đồng cùng với Lại Quang V4 góp số tiền 200.000 đồng, H chuyển số tiền trên cho Hoàng Thanh QPhan Châu Q1 liên lạc với Nguyễn Vũ Phạm Dương m 600.000 đồng ma túy đá về cùng sử dụng tại nhà H tại Đ, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi các đối tượng đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ 0,1121 gam ma túy loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của Lại Quang V4, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1 đã cấu thành các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại c khoản 1 Điều 249 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Vũ Phạm D1 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện T nói riêng có chiều hướng phức tạp với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” đối với Nguyễn Vũ Phạm D1 theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51; Đối với các bị cáo Lại Quang V4, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1 có nhân thân tốt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để các bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.

Tuy nhiên, về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo nhận thấy, bị cáo Lại Quang V4 thực hiện với vai trò chính, chủ mưu bị cáo rủ rê, sử dụng nơi ở và cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho 03 người sử dụng, còn các bị cáo Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1 thực hiện với vai trò giúp sức tích cực để thổ chức sử dụng ma tuý. Do đó, việc quyết định mức hình phạt của bị cáo V4 cao hơn các bị cáo Q1, Q như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo D1 đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên phải chịu mức hình phạt tương ứng với hành vi của mình gây ra.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng có khối lượng: 0,0846 gam, M do Phòng K Công an tỉnh Đ hoàn lại theo Kết luận giám định số 263/KLGĐ-PC09 ngày 17/02/2023 cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại Oppo, màu xanh của Hoàng Thanh Q, 01 điện thoại SamSung J7, màu đen xám của Lại Quang V4, 01 điện thoại Redmi, màu đen của Nguyễn Vũ Phạm D1 sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với số tiền 600.000 đồng Lại Quang V4 chuyển vào số tài khoản 0913717179, ngân hàng M1 mang tên Hoàng Thanh Q, nhờ Q mua ma túy, bà Hoàng Thị Mộng T3 (mẹ của bị can Hoàng Thanh Q), sinh năm 1973, ngụ tại ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã rút ra và giao nộp nên cần tịch thu sung công.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất và Công an huyện T và Biên lai thu tiền số 0005548 ngày 31/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).
  • Đối với các vật chứng này đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất và bản án hình sự phúc thẩm số 467/2023/HSPT ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - 01 Ipad màu trắng của Hoàng Thanh Q, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 của Phan Châu Q1, qua kiểm tra không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6 Plus là của Trần Bảo N2 – bạn gái Nguyễn Kim H, qua điều tra xác định N2 không biết H lấy điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp.
  • - 01 cân điện tử thu giữ của Nguyễn Kim H, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade biển số 54H1 – 7961 đứng tên đăng ký: Trần Ái T4, sinh năm 1976, trú tại 1, đường N, phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chị Trần Ái T4 đã xuất ngoại và định cư tại Mỹ từ năm 2019, hiện nay không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[8] Về các nội dung khác:

  • - Đối với Nguyễn Kim H sau khi xét xử sơ thẩm đã kháng cáo. Ngày 05/10/2023, Nguyễn Kim H đã rút kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Nguyễn Kim H. Vì vậy Nguyễn Kim H đã chấp hành án theo bản án hình sự sơ thẩm số 120/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
  • - Đối với đối tượng tên “Tèo” bán ma túy cho Nguyễn Vũ Phạm D1 để D1 bán lại cho Hoàng Thanh Q cùng đồng bọn sử dụng, hiện chưa xác định được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thông báo Ban Công an các xã thị trấn trên địa bàn huyện T để phối hợp xác minh, điều tra làm rõ và sẽ xử lý sau.
  • - Đối với Trần Bảo N2 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng các bị cáo Nguyễn Kim H, Lại Q, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
  • - Đối với bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1975 và ông Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1974, (bố, mẹ của Nguyễn Kim H) là chủ sở hữu căn nhà tại đội D, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai mà Nguyễn Kim H sử dụng để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định bà Vũ Thị Đ và ông Nguyễn Ngọc T5 không biết Nguyễn Kim H sử dụng nhà của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý đối với bà Đ và ông T5.

[9] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lại Quang V4, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

  • - Xử phạt bị cáo Lại Quang V4 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (B) năm tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lại Quang V4 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 10/02/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh Q 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (B) năm tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Thanh Q phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 10/02/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Phan Châu Q1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (B) năm tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Châu Q1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 10/02/2023.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Phạm D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Phạm D1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/02/2023.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lại Quang V4, Hoàng Thanh Q, Phan Châu Q1, Nguyễn Vũ Phạm Dương m1 bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TAND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND huyện Thống Nhất;

- CCTHAHS huyện Thống Nhất;

- CCTHADS huyện Thống Nhất;

- Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống Nhất;

- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;

- Bị cáo;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: tàng trữ, tổ chức sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 131/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ, Tổ chức sử dụng và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MBTPMT VA TCSDTPMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger