Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HS-PT

Ngày 23 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Hương Giang

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 23/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 143/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; tên gọi khác: Không có; nơi cư trú: Số nhà D, ngõ F, đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 9/12; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 79 ngày 27/12/2023 của UBKT Thành ủy B1; con ông: Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1955; con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; có vợ: Hà Thị T1, sinh năm 1985; có 03 con, lớn sinh năm 2012; nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 25/11/2023, bị Công an tỉnh B quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm”;

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn Ư, ông Hoàng Đức H, bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lệ T2, anh Phạm Văn T3, ông Trần Văn V, chị Dương Thị N1, chị Nguyễn Trang N2, chị Phạm Bích N3 không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T là nhân viên bán hàng thuốc lá cho Công ty TNHH S, địa chỉ số B, đường Q, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Khoảng tháng 4/2023, T sử dụng tài khoản “Tuannguyen” truy cập vào trang thuốc lá ngoại nhập lậu trên mạng xã hội Facebook thấy có số điện thoại kèm theo giá một số sản phẩm thuốc lá ngoại. T liên hệ thì người bán thuốc lá tự giới thiệu tên là B ở tỉnh Bắc Ninh. Hai người trao đổi mua bán thuốc lá điếu nhập lậu. B để thuốc lá điếu nhập lậu vào các thùng cát tông dán kín và gửi qua xe khách tuyến Hà Nội- Bắc Giang cho T và thanh toán qua nhà xe. T cất giấu các thùng cát tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu tại nhà T và tại nhà bố đẻ là ông Nguyễn Văn Ư ở số B, ngõ F, đường Đ, phường X, thành phố B để bán.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H9-3914 chở thuốc lá nhập lậu đi rao bán cho các cửa hàng tạp hoá. Khi T đi đến đường L, phường T, thành phố B thì bị tổ công tác Công an thành phố B kiểm soát thu giữ: 05 cây thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ màu xanh; 03 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Change màu xanh và 02 cây thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 Mandarin Deluxe màu trắng (được niêm phong trong 01 hộp cát tông) và tạm giữ 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98H9-3914.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T ở số nhà D, ngõ F, đường Đ, phường X, thành phố B thu giữ:

  • 26 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD màu xanh; 05 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE Gloden Leaf màu đen. Tất cả được niêm phong trong 01 thùng cát tông ký hiệu A1.
  • 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Captain Black Dark Crema màu nâu; 20 cây thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL màu vàng; 24 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 Mandarin Deluxe màu trắng được niêm phong trong 01 thùng cát tông ký hiệu A2;
  • 50 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD màu xanh được niêm phong trong 01 thùng cát tông ký hiệu A3.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của ông Nguyễn Văn Ư tại số nhà D, ngõ F, đường Đ, phường X, thành phố B thu giữ:

  • 20 cây thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL màu vàng
  • 35 cây thuốc lá nhãn hiệu RICHMOND màu đỏ
  • 85 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Classic màu trắng hồng
  • 40 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Lights màu trắng xanh
  • 20 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Special Gold màu vàng
  • 15 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Gloden Leaf màu đen
  • 12 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Change màu xanh
  • 12 cây thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFE màu xanh
  • 12 cây thuốc lá nhãn hiệu RAISON FRENCH LEMON màu trắng vàng
  • 25 cây thuốc lá nhãn hiệu RAISON ORANGE CAFÉ màu cam
  • 30 cây thuốc lá nhãn hiệu JET màu trắng
  • 22 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE màu trắng xanh
  • 30 cây thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD màu xanh
  • 13 cây thuốc lá nhãn hiệu ZEST màu trắng
  • 14 cây thuốc lá nhãn hiệu Canyon màu trắng
  • 08 cây thuốc lá nhãn hiệu Chapman màu đỏ
  • 20 cây thuốc lá nhãn hiệu Hero.

Tất cả các loại thuốc lá trên đều có mỗi cây 10 bao thuốc lá điếu được niêm phong trong 01 thùng cat tông.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã đầu thú và khai nhận hành vi. Quá trình tiếp nhận đầu thú, Cơ quan điều tra tạm giữ của T 01 điện thoại Nokia màu đỏ và 01 điện thoại Iphone X màu đen.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã thu giữ số thuốc lá nhập lậu mà T đã bán cho các cửa hàng tạp hoá như sau:

Thu giữ tại nhà ông Hoàng Đức H, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố X, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang: 02 cây thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu Chapman màu nâu; 03 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE LIGHT màu trắng. Số thuốc lá trên là của T bán cho ông H đầu tháng 12/2023 gồm 9 cây =90 bao thuốc lá.

Thu giữ tại nhà bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962, trú tại số G, đường N, phường N, thành phố B: 08 bao thuốc lá nhãn hiệu RICHMOND CHERRY SUPERSLIM màu đỏ; 06 bao thuốc lá nhãn hiệu DAVIDOFF màu vàng; 08 bao thuốc lá nhãn hiệu JET màu trắng; 07 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON FRENCH LEMON màu trắng; 08 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL màu vàng; 06 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ORANGE CAFÉ màu cam (bút lục 204-205). Ngoại trừ 06 bao thuốc lá nhãn hiệu DAVIDOFF thì số thuốc lá còn lại là của T bán cho bà D vào đầu tháng 12/2023 (73 bao thuốc lá).

Thu giữ tại nhà chị Trần Thị Lệ T2, sinh năm 1989, trú tại số C, đường L, phường H, thành phố B: 02 bao thuốc lá ZOUK màu trắng và 02 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ (bút lục 181-182). Tháng 7/2023, T bán cho chị T2 01 cây thuốc lá nhãn hiệu ZOUK và 01 cây thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ (2 cây= 20 bao thuốc lá); chị T2 đã bán cho khách còn lại 4 bao thuốc lá trên.

Thu giữ tại nhà anh Phạm Văn T3, sinh năm 1988, trú tại số G, đường N, phường T, thành phố B: 03 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE Lights màu trắng; 05 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE CHANGE màu xanh; 02 bao thuốc nhãn hiệu RAISON ORANGE CAFÉ màu cam và 11 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ màu xanh. T đã bán cho anh T3 03 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE Lights màu trắng; 01 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Change màu xanh; 02 bao thuốc nhãn hiệu RAISON ORANGE CAFÉ màu cam và 11 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ màu xanh (tổng số 26 bao thuốc lá).

Thu giữ tại nhà ông Trần Văn V, sinh năm 1962, trú tại số D, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang: 02 cây thuốc lá nhãn hiệu ZOUK màu trắng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Lights màu trắng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Golden Leaf; 01 cây thuốc lá nhãn hiệu ZEST; 01 cây thuốc lá nhãn hiệu RAISON Blue Cat; 01 cây thuốc lá nhãn hiệu Hero màu xanh vàng. Số thuốc lá trên là của T bán cho ông V đầu tháng 12/2023 (gồm 9 cây= 90 bao thuốc lá).

Thu giữ tại nhà bà Dương Thị N1, sinh năm 1977, trú tại số nhà A, đường H, phường H, thành phố B: 05 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Special Gold màu vàng và 03 cây thuốc lá nhãn hiệu ESSE Change màu xanh. Số thuốc lá trên là của T bán cho bà N1 vào đầu tháng 12/2023 ( gồm 8 cây= 80 bao thuốc lá).

Ngoài ra, T còn bán cho bà Nguyễn Trang N2, sinh năm 1977 ở số nhà E, đường N, phường T, thành phố B 76 bao thuốc nhãn hiệu BLEND No.555; 10 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ; 09 bao thuốc nhãn hiệu ESSE Lights (95 bao). Ngày 20/12/2023 Cục quản lý thị trường tỉnh B kiểm tra và thu giữ của bà N2 tổng số 95 bao thuốc lá điếu nhập lậu.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số thuốc lá thu giữ của Nguyễn Văn T khi kiểm soát, khám xét khẩn cấp và thu giữ tại cửa hàng của ông Trần Văn V và ông Hoàng Đức H.

Kết luận giám định số 9418/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của V1 Bộ C kết luận:

  • Toàn bộ 02 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “Captain Black Dark Crema” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Captain Black Dark Crema”.
  • Toàn bộ 26 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “BLEND NO. 555 Mandarin Deluxe” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “BLEND NO. 555 M”.
  • Toàn bộ 42 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “BLEND NO. 555 ORIGINAL”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “BLEND NO. 555 ORIGINAL”.
  • Toàn bộ 35 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RICHMOND”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu "RICHMOND”.
  • Toàn bộ 85 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE Classic”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu "ESSE Classic".
  • Toàn bộ 44 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE Lights”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE Lights".
  • Toàn bộ 20 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE Special Gold”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE Special Gold".
  • Toàn bộ 22 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE Gloden Leaf”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE Gloden Leaf”.
  • Toàn bộ 15 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE Change”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu "ESSE Change”.
  • Toàn bộ 17 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON ICE CAFÉ”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “RAISON ICE CAFÉ”.
  • Toàn bộ 12 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON French Lemon”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “RAISON French Lemon”.
  • Toàn bộ 25 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON ORANGE CAFÉ”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “RAISON ORANGE CAFÉ”.
  • Toàn bộ 01 cây thuốc lá (cây chứa 10 bao, 01 bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON Blue Cat”, không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “RAISON Blue Cat".
  • Toàn bộ 30 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “JET”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “JET”.
  • Toàn bộ 22 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE”.
  • Toàn bộ 108 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “BLEND NO. 555 GOLD”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “BLEND NO. 555 GOLD”.
  • Toàn bộ 14 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ZEST”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ZEST”
  • Toàn bộ 02 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ZOUK”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ZOUK”.
  • Toàn bộ 14 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “Canyon”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Canyon”.
  • Toàn bộ 08 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “Chapman” màu đỏ, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Chapman” màu đỏ.
  • Toàn bộ 02 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “Chapman” màu nâu, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Chapman” màu nâu.
  • Toàn bộ 21 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “Hero”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Hero”.

Căn cứ khoản 1 và Khoản 5 Điều 7 Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C1 quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà; Khoản 6, Điều 3 hàng hóa nhập lậu của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Bộ Y và Bộ C1 “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”; Điều 3 Thông tư 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T7 “hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: Tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.

Cơ quan điều tra trưng cầu giám định số thuốc lá điếu thu giữ tại cửa hàng của gia đình bà Dương Thị N1, Nguyễn Thị D, anh Phạm Văn T3 và chị Trần Thị Lệ T2.

Kết luận giám định số 9647/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của V1 Bộ C kết luận:

  • Toàn bộ 50 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE SPECIAL GOLD” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE SPECIAL GOLD".
  • Toàn bộ 35 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE CHANGE”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE CHANGE”.
  • Toàn bộ 06 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “DAVIDOFF GOLD” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “DAVIDOFF GOLD".
  • Toàn bộ 08 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY SUPERSLIM” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “RICHMOND CHERRY SUPERSLIM”.
  • Toàn bộ 08 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “JET” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “JET”.
  • Toàn bộ 07 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON FRENCH LEMON”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu "RAISON FRENCH LEMON”.
  • Toàn bộ 08 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 ORIGINAL” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu "BLEND NO.555 ORIGINAL”.
  • Toàn bộ 08 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON ORANGE CAFÉ” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “RAISON ORANGE CAFÉ”.
  • Toàn bộ 03 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ESSE LIGHTS” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE LIGHTS”.
  • Toàn bộ 13 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “RAISON ICE CAFÉ” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “RAISON ICE CAFÉ".
  • Toàn bộ 02 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) mang nhãn hiệu “ZOUK” đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điều thành phẩm mang nhãn hiệu “ZOUK”.

Căn cứ Khoản 1 và Khoản 5 Điều 7 Thông tư 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C1 quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà; Khoản 6 Điều 3 hàng hóa nhập lậu của Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/2/2013 của Bộ Y và Bộ C1 “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”; Điều 3 Thông tư số 23/2021/TT-BCT ngày 30/1/2021 của Bộ T7 “Hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.

Kết quả điều tra xác định: Từ đầu năm 2023 đến ngày 17/12/2023 ngoài tổng số 550 cây thuốc lá bị thu giữ khi kiểm soát, khám xét thì T còn bán tổng số 438 bao thuốc lá điếu nhập lậu. Tổng số T buôn bán 5.938 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại. Do T thu tiền ngay nên không làm sổ sách theo dõi. Theo T khai mỗi cây thuốc lá điếu nhập lậu bán cho khách thì lãi từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng. Từ tháng 4/2023 đến ngày 17/12/2023, mỗi tháng T thu lời được 5.000.000 đồng, tổng số tiền đã thu lời là 37.000.000 đồng. Việc T buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là do một mình T thực hiện, những người thân trong gia đình T không biết và không tham gia buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 3, 4 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 24/4/2024, bị cáo Nguyễn văn T4 kháng cáo phần hình phạt của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có tác động để gia đình nộp tiền phạt, thu lời bất chính cũng như án phí cho bị cáo trước khi xét xử phúc thẩm. Gia đình bị cáo có nộp cho Tòa án một số tài liệu: Biên lai thu số 00001136 ngày 28/03/2024 và Biên lai thu số 0001174 ngày 23/7/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn; Bản sao Giấy khen ngày 15/12/2001; Bản sao Quyêt định xuất ngũ số 1804/QĐ ngày 17/03/2002; Bản sao Giấy khen Nguyễn Văn Ư; Bản sao Giấy khen Nguyễn Văn Ư; Bản sao Nguyễn Văn Ư; Bằng khen Nguyễn Văn Ư; Bản sao Giấy khen Nguyễn Văn Ư 2015; Bản sao Giấy khen Nguyễn Văn Ư năm 2016; Bản sao Giấy khen Nguyễn Văn Ư 2016; Bản chính Giấy khen Nguyễn Thị T5; Bản sao Công nhận gia đình văn hóa; Đơn Đề nghị giảm nhẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190- Bộ luật hình sự.

Sau khi phân tích tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Đại diện Viện kiểm sát Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị tuyên phạt bị cáo 08 năm 03 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Bị cáo lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo nộp đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong hạn luật định theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như quyết định của bản án sơ thẩm là đúng, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 18/12/2023 do Công an thành phố B lập, vật chứng thu giữ. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng Bản kết luận giám định số 9418/KL-KTHS ngày 20/12/2023; số 9647/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của V1 Bộ C. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Văn T đặt mua trên mạng xã hội các loại thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài, không có tem nhập khẩu, không đủ điều kiện để lưu thông trên thị trường Việt Nam sau đó cất giấu mục đích để bán cho người khác. Ngày 18/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H9-3914 chở 10 cây thuốc lá điếu nhập lậu đi bán thì bị Công an thành phố B kiểm tra thu giữ vật chứng. Cơ quan điều tra khám xét thu giữ của T tổng số 540 cây thuốc lá (5.400 bao) và thu giữ tại những cửa hàng mà T đã bán tổng số 438 bao thuốc lá các loại đều do nước ngoài sản xuất, không dán tem nhập khẩu, không đủ điều kiện để lưu thông trên thị trường Việt Nam. Từ đầu năm 2023 đến ngày 17/12/2023, T đã buôn bán tổng số 5.938 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại và thu lời 37.000.000 đồng. T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độc độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, trong đó có thuốc lá nhập lậu. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm b khoản 3 điều 190 của Bộ Luật hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án 09 năm 03 tháng tù là phù hợp, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tác động đến gia đình để gia đình nộp tổng số tiền 67.200.000 đồng là tiền phạt bổ sung, thu lời bất chính, án phí HSST và nộp bản sao bằng khen của bố đẻ bị cáo nên xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm. Cần giảm nhẹ một phần hình phạt tù của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2023.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
  4. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền 67.200.000.000 đồng gồm phạt bổ sung, thu lợi bất chính, án phí HSST theo các biên lai thu số Biên lai thu số 00001136 ngày 28/03/2024 và Biên lai thu số 0001174 ngày 23/7/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 131/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger