Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN DU

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 131/2024/HSST

Ngày 23/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Thắng.
  2. Ông Nguyễn Hữu Ba

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/HSST ngày 27/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 08/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh năm 1991;

Hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị C1, Sinh năm: 1994, Nghề nghiệp: Lái xe; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2024. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Dương Đình H, sinh năm 1973 (Đã chết).

Trú tại: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976. Vắng mặt.
  2. Anh Dương Đình H1, sinh năm 1996. Vắng mặt.
  3. Anh Dương Đình H2, sinh năm 2003. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

* Người đại diện theo uỷ quyền của Bà Nguyễn Thị N, anh Dương Đình H2:

Anh Dương Đình H1, sinh năm 1996. Vắng mặt

Cùng trú tại: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH H5; địa chỉ: Tổ A, Phường P, quận L, thành phố Hà Nội.

  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn H3, sinh năm 1992, chức vụ: Giám đốc.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1991; Vắng mặt.

Trú tại: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 07/3/2024, S điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Mighty, biển kiểm soát 29H - 769.60 có đăng ký xe mang tên công ty H2CHEMICAL, từ bãi xe của công ty ở Ngõ A Đ, Y, G, Hà Nội chở khoảng hơn 3 tấn hàng là muối tinh theo đường QL 1A cũ về thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 7 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường TL295B thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện T, S điều khiển xe di chuyển ở làn đường bên trái, sát dải phân cách cứng trồng cây giữa đường thì thấy anh Dương Đình H, sinh năm 1973 ở Hồ I, T, thành phố T, Bắc Ninh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airbalde biển kiểm soát 99B1-174.53 đi ở làn giữa, cùng chiều, phía trước cách xe ô tô do S điều khiển khoảng 20m. Khi anh H đi đến gần khoảng giữa của lối mở (có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ), đối diện cổng làng Đ, xã N thì chuyển hướng đi từ làn giữa sang làn bên trái để đi sang chiều đường B - Hà Nội. Do nghĩ anh H tiếp tục di chuyển về hướng Thành phố B, không chuyển hướng, nên S không chú ý quan sát, không nhìn thấy anh H chuyển hướng sang đường. Khi phát hiện thấy xe của anh H, S chỉ kịp đạp phanh, không kịp tránh nên xe ô tô của S đâm vào xe mô tô của anh H. Sau khi va chạm, xe của S tiếp tục di chuyển đẩy xe mô tô cùng anh H về phía trước 15m rồi dừng lại. Hậu quả, anh H bị thương tích nặng phải cấp cứu tại Bệnh viện đến 19 giờ 05 phút cùng ngày thì tử vong.

Sau khi nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và xác minh làm rõ vụ việc.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn: trên đường T (QL 1A cũ) chiều đường từ thành phố T đi thành phố B thuộc địa phận Đ, Nội D, T. Đường được dải nhựa phẳng rộng 11m. Bên phải mép đường tiếp giáp là vỉa hè rộng 5m và cao 0,2m so với mặt đường. Bên trái mép đường tại vị trí xảy ra tai nạn có lối mở giữa hai chiều đường rộng 29,5m.

Trên hiện trường phát hiện các dấu vết, phương tiện như sau:

Xe ô tô biển kiểm soát 29H - 769.60 đỗ trên mặt đường. Đầu xe hướng về phía thành phố B đuôi xe hướng về phía thành phố T. Đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường 1,5m. Đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường là 1,5m và cách vị trí mốc được chọn về phía thành phố T là 13,3m.

Xe mô tô biển kiểm soát 99B1 - 174.53 đổ nghiêng sang phải trên mặt đường. Đầu xe hướng phía mép trái đường, đuôi xe hướng về phía mép phải đường. Đầu trục bánh sau cách mép đường là 2,35m. Đầu trục bánh trước cách mép đường là 1,2m và cách đầu trục bánh trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 29H - 769.60 là 0,3m.

01 đám vết mài trượt màu đen diện (0,9x0,15)m có chiều từ thành phố T đi thành phố B, có dạng liền mạch, điểm đầu của vết cách mép đường là 1,3m, điểm cuối của vết cách mép đường là 1,3m và cách vị trí mốc được chọn về phía thành phố B là 3,8m.

01 đám vết cày xước diện (22,5x1,6)m có chiều từ thành phố T đi thành phố B, dạng không liền mạch. Điểm đầu của vết cách mép đường là 1,4m, điểm cuối của vết tại vị trí bàn để chân bên trái người ngồi sau xe mô tô BKS: 99B1 - 174.53.

01 đám máu diện (0,4x0,2)m, tâm cách mép đường là 0,9m và cách trục bánh trước xe mô tô BKS: 99B1 - 174.53 về phía thành phố B là 0,5m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô nhãn nhiệu Honda AirBlade, BKS: 99B1 - 174.53:

  • Khung tay lái bên phải cong xuống dưới, mặt trước trên đầu tay lái, tay phanh, ốp nhựa bên phải, lỗ chân gương có diện dấu vết xước KT (17x11)cm;
  • Mặt ngoài cánh yếm bên phải có dấu vết xước KT (42x37)cm, chiều từ trên xuống dưới;
  • Mặt ngoài cánh yếm bên trái có dấu vết trượt xước KT (8x4)cm, dấu vết cách mặt đất 43cm, cao nhất 51cm, ốp nhựa phía trong cánh yếm này có dấu vết vỡ KT (18x6)cm;
  • Góc trước sàn để chân trước bên trái có dấu vết vỡ bung KT (22x10)cm, chiều từ trước về sau, từ trái sang phải.
  • Mặt ngoài ốp nhựa sườn bên trái có dấu vết trượt KT (60x17)cm, cách mặt đất 53cm, cao nhất 74cm, mặt ngoài ốp nhựa màu đen dưới ốp nhựa sườn bên trái có dấu vết in trượt KT (15x4)cm, cách mặt đất 50cm, vị trí dấu vết tương ứng phía trên bàn để chân sau;
  • Mặt trên ngoài bên trái tay nắm sau có dấu vết trượt, bám chất màu trắng KT (18x1,5)cm, cách mặt đất 80cm, cao nhất 85cm;
  • Mặt ngoài sàn để chân trước bên phải có dấu vết xước KT (34x2,5)cm, chiều từ trên xuống dưới;
  • Mặt ngoài ốp nhựa sườn bên phải có dấu vết xước KT (15x1,5)cm, chiều từ trên xuống dưới;
  • Mặt trước dưới bàn để chân sau bên phải và ốp nhựa phía dưới có dấu vết xước KT (11,5x2,5)cm, chiều từ trên xuống dưới;
  • Mặt ngoài ốp ống xả có dấu vết xước KT (32x7)cm, chiều từ trên xuống dưới;
  • Mặt ngoài hộp dây đai chuyển động bánh sau có vết xước, rách KT (10,5x5)cm, cách mặt đất khi xe đổ nghiêng bên phải là 32cm, cao nhất 37cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, đèn, còi hoạt động bình thường.

Xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai màu trắng, số loại MIGHTY, BKS: 29H - 769.60:

  • Mặt kính trước có dấu vết vỡ rạn, KT (60x47)cm, tâm vỡ sát với cạnh dưới, cách cạnh bên trái kính 34cm, cách mặt đất 148cm.
  • Mặt trước đầu xe tại vị trí gắn chữ “MIGHTY” có dấu vết lõm KT (30x12)cm, dấu vết cách mặt đất 112cm;
  • Vỡ toàn bộ mặt đèn pha và một phần đèn báo rẽ bên trái KT (35x32)cm;
  • Mặt trước đầu xe dưới vị trí L có dấu vết trượt xước mất sơn nằm chéo KT (16x1,5)cm, dấu vết cách mặt đất 78cm;
  • Mặt cản trước và một phần góc trên bên trái biển số có dấu vết in trượt không liên tục KT (64x28)cm, dấu vết cách mặt đất 46cm, cao nhất 72cm, cách mặt ngoài bên trái cản trước 50cm, bề mặt cản và biển số tại vị trí có dấu vết này lõm về sau;
  • Đầu phía trước khung xe bên trái nhô ra tại vị trí này có dấu vết trượt không liên tục bám chất dạng nhựa màu trắng KT (7x2)cm, dấu vết cách mặt đất 53cm;
  • Mặt trước ngoài phần đầu bên trái cản trước và mặt trước đầu bậc dưới chân bên trái khoang lái ngay sau cản trước có dấu vết trượt không liên tục KT (15x14)cm, bề mặt có bám chất màu đò chiều từ trước về sau, dấu vết cách cách mặt đất 42cm, cao nhất 52cm, cản trước tại vị trí này có dấu vết dồn đẩy về phía sau, ép sát vào bậc bước chân.
  • Mặt trước đầu đế gắn trước nhíp giảm sóc bên trái trục trước có dấu vết bám chất màu đen, màu trắng KT (9x1,2)cm, cách mặt đất 43cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, đèn, còi hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Khám ngoài: Mặc áo phông cộc tay màu trắng xanh được cắt ra trong quá trình khám bệnh, mặc bỉm màu xanh.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

  • Phù nề, bầm tím vùng thái dương đỉnh trái sát với đường giữa về trên đường chân tóc 9cm KT (10x11)cm;
  • Nửa mặt bên phải rải rác có các vết xây xát da không liên tục trên diện (14x13)cm.
  • Hai mắt nhắm, niêm mạc nhợt nhạt, đồng tử giãn, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và miệng khô.
  • Vùng cổ sau bên trái đến vùng vai trái có diện bầm tím KT (23x20)cm.
  • Gãy 1/3 giữa xương đùi bên trái, thành ngực mất vững.
  • Vùng thành ngực bên phải theo đường nách giữa và dưới đuôi hõm nách 10cm có vết rách da nằm ngang (vị trí dẫn lưu khoang màng phổi trong quá trình cấp cứu). Vùng thành ngực bên trái theo đường nách giữa và dưới đỉnh hõm nách 10cm có vết rách da kích thước 2cm.
  • Vùng bụng không phát hiện tổn thương. Sờ nắn thấy lép bép dưới da.
  • Vùng cổ, ngực và hai cánh tay: Mặt sau cổ tay phải đến mu bàn tay phải có diện xây sát da, bầm tím KT (9x19)cm. Mặt sau ngoài khuỷu tay trái có diện xây sát da KT (4x3)cm. Mu bàn tay trái có diện xây xát da, bầm tím KT (8x4)cm.
  • Khung chậu vững, bộ phận sinh dục không phát hiện tổn thương.
  • Mặt trước trong đầu gối phải đến mu bàn chân phải có diện xây xát da không liên tục KT (53x4)cm. Mặt trước ngoài đến đầu gối bên trái có diệ xây xát da không liên tục KT (6x4,5)cm. Mặt sau trong 1/3 trước cẳng chân trái có diện xây xát da KT (7x1,5)cm. Mặt trước 1/3 dưới cẳng chân trái có vết bầm tím KT (13x7)cm. Gãy kín 1/3 xương dưới cẳng chân trái.

Giải phẫu tử thi:

Giải phẫu vùng ngực thấy bầm tụ máu dưới da cơ vùng ngực hai bên KT (20x15)cm, bên trái nhiều hơn bên phải. Gãy cung bên xương sườn số 3,4,5 bên phải. Gãy cung trước và cung bên xương sườn 3 đến 6 bên trái. Khoang lồng ngực bên trái có chứa 1,51 máu. Hai phổi màu hồng nhạt, mặt cắt phổi khô, xốp. Phổi trái xẹp, rách bờ dưới thuỳ trên phổi trái KT (2,5x1)cm. Bầm dập tụ máu trung thất. Rách rốn phổi bên trái KT (4x3)cm. Bao tim còn nguyên vẹn, trong bao tim có ít dịch màu hồng. Thượng tâm mạc tâm thất trái có diện bầm tụ máu KT (4x3,5)cm. Các van tim mềm mại không phát hiện tổn thương.

Giải phẫu vùng bụng thấy da cơ vùng bụng màu thuần nhất, khoang ổ bụng khô. Các tạng trong khoang ổ bụng không phát hiện tổn thương. Mở dạ dày thấy trong lòng dạ dày có ít dịch.

Tại các kết quả giám định:

Kết quả giám định nồng độ cồn, ma tuý trong máu: Tại Bản kết luận giám định số: 745/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Mẫu máu ghi thu của Dương Đình H, SN 1973 ở Hồ I, T, Tp ., Bắc Ninh không tìm thấy chất ma tuý, không tìm thấy thành phần Ethanol (cồn)”.

Kết quả giám định nguyên nhân chết: Tại Bản kết luận giám định số: 739/KL-KTHS ngày 17/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Nguyên nhân chết của Dương Đình H, sinh năm 1973 ở Hồ I, T, Tp ., Bắc Ninh là chấn thương ngực kín”.

Kết quả giám định dấu vết phương tiện: Tại bản kết luận giám định số: 926/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: 1) Dấu vết in, trượt xước, mất sơn tại mặt trước đầu xe ô tô biển số 29H - 769.60 có chiều in từ trước về sau, chiều trượt xước từ dưới lên trên, phù hợp với dấu vết trượt, bám chất màu trắng tại mặt ngoài bên trái tay nắm sau trên xe mô tô biển số 99B1-174.53. Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 99B1 - 174.53 tại vị trí này có chiều từ trái sang phải, từ trên xuống dưới; 2) Dấu vết vỡ tại mặt ngoài ốp nhựa sườn bên trái trên xe mô tô biển số 99B1 - 174.53 có chiều từ trái sang phải, hình thành do va chạm với đầu kim loại phía trước bên trái trên xe mô tô biển số 29H - 769.60 tạo nên là phù hợp. Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 29H - 769.60 tại vị trí này có chiều từ trước về sau. Vị trí này là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

Kết quả định giá tài sản: Tại kết luận định giá tài sản số: 36/KL-ĐGTSTTHS ngày 22/3/2024 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS huyện T (kèm theo biên bản định giá số 36/TCKH-BBĐGHĐ ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS), kết luận: Hư hỏng của xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen - đỏ, BKS 99B1 - 174.53, số máy: 46E - 0095173, số khung 4608DY084903, dung tích xi lanh 125cm³. Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị thay thế sửa chữa lại là: 10.070.000 đồng (Mười triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy và phối hợp với Cảnh sát giao thông Công an huyện T tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở của Nguyễn Văn S. Kết quả S âm tính với ma túy, nồng độ cồn trong khí thở tại thời điểm kiểm tra: 0,000mg/l.

Về thu giữ vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ:

01 xe ô tô BKS 29H - 769.60 cùng giấy tờ xe, 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Văn S; 01 xe mô tô BKS 99B1 - 174.53, 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 99B1-174.53.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99B1-174.53, quá trình điều tra xác định chiếc xe có đăng ký mang tên anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987 ở khu phố X, Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2024, anh T bán lại chiếc xe trên cho anh Dương Đình H với giá 30.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại. Ngày, 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 99B1 - 174.53 cho anh Dương Đình H1, sinh năm 1996 ở Hồ I, phường T, Thành phố T, Bắc Ninh là đại diện uỷ quyền gia đình anh H là phù hợp.

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29H - 769.60 cùng giấy tờ xe là tài sản của Công ty TNHH H5. Ngày 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991 ở B, N, N, Thanh H4 là đại diện uỷ quyền công ty là phù hợp.

Về bồi thường dân sự: Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Dương Đình H tổng số tiền 210.000.000₫ (Hai trăm mười triệu đồng). Gia đình anh H đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì khác, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.

Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu S phải bồi thường gì đối với hỏng hóc của chiếc xe ô tô.

Tại bản cáo trạng số 70a/CT-VKSTD ngày 25/6/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Nguyễn Văn S thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng và khai nhận: Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn S có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/4/2021, có giá trị sử dụng đến ngày 20/4/2026, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-769.60 đi trên đường T hướng thành phố T đi thành phố B, đoạn gần lối mở (có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ) đối diện cổng làng Đ, xã N thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên S đã đâm vào xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 99B1-174.53 đi phía trước cùng chiều do anh Dương Đình H điều khiển. Hậu quả, anh H bị thương nặng và tử vong cùng ngày.

Sau khi sự việc xảy ra bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 210.000.000 đồng và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện theo uỷ quyền của ông H là anh Dương Đình H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh số tiền 210.000.000 đồng. Nay gia đình anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm về mặt dân sự và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H5 là ông Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Xe ô tô BKS: 29H - 769.60 cùng giấy tờ xe là tài sản của Công ty H5 giao cho S quản lý, sử dụng. Khi trên đường di chuyển S đã gây tai nạn. Hiện công ty đã được nhận lại chiếc xe và giấy tờ xe không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" ;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 16 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo uỷ quyền của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Trả lại cho bị cáo, 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Văn S.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên toà đủ để khẳng định: Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn S có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/4/2021, có giá trị sử dụng đến ngày 20/4/2026, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-769.60 đi trên đường T hướng thành phố T đi thành phố B, đoạn gần lối mở (có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ) đối diện cổng làng Đ, xã N thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên S đã đâm vào xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 99B1-174.53 đi phía trước cùng chiều do anh Dương Đình H điều khiển. Hậu quả, anh H bị thương nặng và tử vong cùng ngày.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Do vậy, đại diện VKSND huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác nên cần xử lý phù hợp với hành vi bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa hành vi vi phạm, tội phạm nói chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo ý thức tuân thủ pháp luật trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy lái xe là công việc chính mang lại thu nhập cho bị cáo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  2. Về vật chứng: Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Văn S cần trả lại cho bị cáo.
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
  3. Xử phạt: Nguyễn Văn S 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/7/2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
  6. - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Văn S.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 109 ngày 27/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du)

  7. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
  10. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện theo uỷ quyền của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 131/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi pham quy dinh ATGTDB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger