|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HS-ST
Ngày 21/8/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Anh;
- Bà Chu Thị Hồng Nhật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồ Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trịnh Văn T, sinh ngày 10/8/1976, tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Văn D (đã chết) và bà Trần Thị C, vợ: Nguyễn Thị L; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/6/2024 đến ngày 21/6/2024 chuyển tạm giam đến nay.
* Người chứng kiến:
- Ông Phạm Ngọc B, sinh năm 1976, trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1981, trú tại: Số nhà A, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt ông B, anh T1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 15/6/2024, Trịnh Văn T đi xe ôm từ nhà đến khu vực đường L, tổ F, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày khi T đi đến khu vực đường P, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Phạm Ngọc B và anh Phạm Văn T1, T tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy tráng kim màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T vừa mua để sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 908/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận “Mẫu vật quản lý của Trịnh Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1745 gam”.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số 132/CT-VKSTPTB ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định.
* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:
Biên bản bắt người phạm tội quả. Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ. Kết luận giám định số 908/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận. Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến. Các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 15/6/2024, tại khu vực đường P, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình tổ công tác Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang Trịnh Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1745 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[6] Về vật chứng của vụ án: Số Heroine còn lại sau giám định 0,0968 gam thu giữ của bị cáo, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực đường L, tổ F, phường K, thành phố T nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định là 0,0968 gam trong phong bì niêm phong số 908/KL-KTHS, ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.
(Vật chứng Công an thành phố T đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 18/7/2024).
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/8/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Tuyết |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn T phạm tội TTTPCMT
