Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HS - ST

Ngày: 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Nguyễn Xuân Ban
  • + Ông Phạm Ngọc Diện

Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Thị H, sinh năm: 1974; tại: Nghệ An; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; chức vụ; đoàn thể; đảng phái: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương K và bà Lương Thị C, (Cả hai đều đã chết); có chồng là Trịnh Minh T và có 03 con lớn nhất sinh năm: 1997, nhỏ nhất sinh năm: 2005; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Trần Thị Thu S, sinh năm: 1973.

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Lê Văn T1, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1998.

2

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Bà Trương Thị L, sinh năm: 1967.

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

+ Anh Trịnh Minh T2, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp cho anh Trịnh Minh T2: Ông Trịnh Minh T, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Người làm chứng: Ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1969.

  • + Bà Nguyễn Thị Huyền Q, sinh năm: 1983.
  • + Bà Đỗ Thị L1, sinh năm: 1976.
  • + Bà Võ Thị H1, sinh năm: 1977.

(Bà S, anh T1, chị N, ông T, bà L, ông Đ có mặt; bà Q, bà L1, bà H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 02/12/2023, Lê Văn T1 đi chở cà phê trên vườn tại thôn T, xã Đ, huyện L thì gặp ông Trịnh Minh T đi cùng con trai Trịnh Minh T2 (bị khuyết tật bẩm sinh) cùng nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện L. Do hai gia đình đã có mâu thuẫn từ trước, rẫy cà phê của hai bên sát nhau, ông T cho rằng T1 để các bao cà phê lên trên diện tích đất của mình nên không cho T1 chở cà phê về và yêu cầu T1 gọi bố mẹ đến để giải quyết. Khoảng 05 phút sau, mẹ T1 là bà Trần Thị Thu S cùng bố là ông Lê Văn Đ, vợ T1Nguyễn Thị N, em trai là Lê Trọng Q1 cùng đi đến chỗ T1. Lúc này, hai bên xảy ra sự việc cãi nhau, xô xát, ông T cầm 01 khúc tre dài khoảng 80 cm để đe doạ không cho gia đình T1 chở cà phê về mà để mời chính quyền địa phương xuống giải quyết. Ông Đ nói T1 khiêng cà phê lên xe chở về thì ông T không cho và vụt cây tre về phía ông Đ nhưng không trúng. Thấy vậy, T1 lao vào giật cây tre từ tay của ông T rồi vật ông T ngã xuống đất, hai người vật nhau qua lại. Sau đó, T1 thả ông T ra thì ông T đòi lao vào phía ông Đ không cho lấy cà phê đi. Thấy vậy, T1 dùng chân trái đạp vào vùng bụng ông T và dùng tay phải đấm 01 cái vào mặt ông T khiến ông T ngã ra đường đất, người ông T ngã xuống đất, chân phải và vùng ngực va vào đá trên đất khiến ông T bị rách da phần đùi bên phải, vùng ngực bị bầm. Trong lúc này, giữa Trịnh Minh T2 với bà Trần Thị Thu S

3

S và Nguyễn Thị Ngọc x ra sự việc xô đẩy nhau, dẫn đến T2 bị ngã xuống đất và nằm ôm mặt khóc, thấy vậy thì hai bên dừng lại và trở về nhà.

Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, vợ ông T là bà Trương Thị H, đang đứng trước nhà bà Trương Thị L thì thấy bà S đi bộ cùng bà Nguyễn Thị Huyền Q và bà Đỗ Thị L1 và bà Võ Thị H1 đi bộ đi ăn đám cưới hướng về phía mình, bà H bực tức việc lúc trưa con trai bà Hậu bị khuyết tật bẩm sinh bị gia đình bà S đánh nên muốn đánh lại bà S. Thấy nhà bà Trương Thị L bán nước mía, có sẵn bao mía đựng các khúc mía để cạnh xe nước mía nên bà H đã cầm một cây mía tươi có chiều dài 60cm, đường kính khoảng 3,5cm, vỏ màu tím tiến về phía bà S rồi vừa chửi bà S, hai tay vừa cầm cây mía vụt theo hướng chéo, từ trên xuống vào người bà S 2 phát, theo phản xạ bà S co tay trái lên sát ngực, bà H vụt cây mía trúng phần cổ tay trái bà S, phát thứ hai bà H vụt trúng phần vai bên trái của bà S. Thấy bà H tiếp tục cầm cây mía đòi đánh thì bà L1 và bà H1 đứng cạnh ôm bà H lại để can ngăn, lúc này bà S ôm tay chạy về nhà.

Hậu quả: Bà Trần Thị Thu S bị gãy 1/3 xương cổ tay trái phải đi chữa trị tại Trung tâm y tế huyện LBệnh viện S1 để điều trị vết thương.

Tại bản Kết luận giám định số 170/KLTTCT-PYLĐ ngày 28/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của bà Trần Thị Thu S, tại thời điểm giám định là: Gãy 1/3 dưới xương quay trái là 08%, sẹo mổ là 02%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Trần Thị Thu S tại thời điểm giám định là 10% (mười phần trăm), Tổn thương do vật tày gây nên.

Tại bản Kết luận giám định số 109/KLTTCT-PYLĐ ngày 27/2/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Trịnh Minh T, tại thời điểm giám định là: Sẹo 1/3 trước đùi phải là 02%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trịnh Minh T tại thời điểm giám định là 02%, sẹo 1/3 trước đùi phải do vật tày có cạnh gây nên.

Tại bản Kết luận giám định số 109/KLTTCT-PYLĐ ngày 27/2/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L xác định: Hiện tại không thấy tổn thương thực thể tại các vị trí ghi trong giấy chứng nhận thương tích. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Minh T2 tại thời điểm giám định là: 00%, tổn thương do vật tày gây nên.

Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSLH ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Trương Thị H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

4

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Thị H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị H từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 24 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Trần Thị Thu S tiền bó bột tại trung tâm y tế huyện L, tiền khám tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L; tiền khám, tiền mổ, điều trị tại Bệnh viện S1, tiền xe đi khám, tiền thu nhập bị mất, bị giảm sút, tiển tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 70.933.500đồng. Xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 khúc mía màu tím, dài khoảng 60cm, đường kính 3.5cm, một đầu bị gãy, một đầu cắt chéo; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại tiền thuốc theo hóa đơn chứng từ và các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật.

Bị hại là bà Trần Thị Thu S cho rằng bà Trương Thị L có hành vi cầm tay trái của bà để cho bị cáo cầm cây mía đánh trúng cổ tay và cổ vũ bị cáo đánh bà, tuy nhiên bị hại không có chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Tại phiên tòa những người làm chứng, chứng kiến việc bị cáo đánh bị hại vắng mặt, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành làm việc đối với những người làm chứng, xác định bà L không có mặt tại hiện trường khi bị cáo đánh bị hại và cũng không có lời nói cổ vũ bị cáo đánh bị hại, còn bà L khẳng định mình không có mặt khi bị cáo đánh bị hại, tại phiên tòa bị hại cũng không có chứng cứ chứng minh và cũng không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo

5

không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị H khai nhận: vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 02/12/2023 tại đoạn đường nhựa thuộc thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã có hành vi dùng 01 khúc mía tươi màu tím, dài 60cm, đường kính 3,5cm vụt theo hướng chéo, từ trên xuống vào người bà Trần Thị Thu S 2 phát trúng phần cổ tay trái và phần vai bên trái của bà S làm gãy 1/3 xương cổ tay trái gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% vĩnh viễn. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trương Thị H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được cây mía tươi, màu tím dài 60cm, đường kính 3,5cm là hung khí nguy hiểm và khi sử dụng hung khí này để tấn công vào thân thể của người khác thì sẽ có hậu quả xảy ra nhưng bị cáo vẫn sử dụng cây mía dùng hai tay cầm cây mía vụt hai phát vào người bà S theo hướng từ trên xuống và hướng chéo, khi bà S co tay trái lên thì bị cáo vụt trúng cổ tay trái, bị cáo tiếp tục vụt phát tiếp theo trúng vai của bà S, hậu quả bà S bị gãy 1/3 xương cổ tay trái. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà để bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại. Bên cạnh đó, bị cáo có mẹ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Mặt khác, sự việc xảy ra một phần do buổi trưa cùng ngày chồng của bị cáo và con trai của bị cáo bị khuyết tật bẩm sinh nhưng bị gia đình bị hại đánh (tương quan lực lượng khi đó gia đình bị hại có năm người, còn gia đình bị cáo chỉ có chồng và con trai bị khuyết tật bẩm sinh) nên bị cáo bức xúc, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là phụ nữ nuôi con bị tật bẩm sinh nặng sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình và đang được hưởng trợ cấp hàng

6

tháng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng hình phạt chính là hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo, giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: sau khi sự việc xảy ra, bà S được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện L; Bệnh viện đa khoa tỉnh Lbệnh viện S1. Quá trình điều tra, truy tố, bà Trần Thị Thu S có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại về chi phí khám chữa bệnh là 66.831.742đồng, thu nhập thực tế bị mất và giảm sút là 55.100.000đồng, tiền ăn uống mua đồ dùng cá nhân là 1.500.000đồng; tiền xe đi khám bệnh, chữa bệnh là 6.522.000đồng; tổn thất về tinh thần là 10.800.000đồng. Tổng cộng bà S yêu cầu bị cáo phải bồi thường là 140.753.000 đồng.

Qua xem xét yêu cầu của bà S, đối chiếu với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với những khoản chi phí bà S yêu cầu có khoản chi phí hợp lý, có khoản chi phí chưa hợp lý cụ thể: đối với những khoản khám tại bệnh viện S1 không có hóa đơn hoặc hóa đơn không rõ ràng nên không được chấp nhận bao gồm tiền khám ngày 08/01/2024 là 435.000đồng, 846.000đồng, vật lý trị liệu 150.000đồng; toàn bộ chi phí khám tại phòng khám của bác sỹ Bùi Thanh L2 không có hóa đơn chứng từ.

Đối với tiền xe đi khám tại bệnh viện Đ1 sau khi bó bột bị hại yêu cầu là 1.000.000đồng là không phù hợp, nên chỉ chấp nhận theo giá phương tiện công cộng là 200.000đồng; tiền xe khách đi khám tại bệnh viện S1 phú Nhuận ngày 07/01/2024; ngày 11/01/2024 và ngày 25/01/2024 bị hại yêu cầu là 3.120.000đồng, tuy nhiên chiều đi ngày 07/01/2024 bị hại đi không theo sự chỉ định của bác sỹ nên không chấp nhận chỉ chấp nhận 1.560.000đồng; chi phí ăn uống mua đồ dùng cá nhân là 1.500.000đồng không chấp nhận vì không phù hợp; chi phí đi giám định thương tật là 1.000.000đồng không có cơ sở để chấp nhận do giám định là căn cứ để giải quyết vụ án theo yêu cầu bị hại; chi phí dự

7

định mổ lấy vít là 15.000.000đồng không có cơ sở để chấp nhận, sau này bị hại tháo vít và có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Đối với khoản chi phí bị cáo điều trị tại bệnh viện S1 phú Nhuận là 47.305.000đồng mặc dù bị cáo xuất trình được biên lai, tuy nhiên việc bị cáo đi chữa trị không có sự chỉ định của bác sỹ nên chỉ chấp nhận ½ chi phí điều trị tại bệnh viện S1 là 23.628.000đồng là phù hợp, đồng thời bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền này.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận các khoản yêu cầu bồi thường của bà S cụ thể như sau:

  • + Tiền thuốc khám sau khi bó bột tại bệnh viện L3 ngày 06/12/2023 là 278.000đồng.
  • + Tiền di chuyển G trong thời gian khám bệnh tại S là 302.000 đồng.
  • + Tiền xăng đi bó bột tại bệnh viện L3 ngày 02/12/2023 là 100.000đồng.
  • + Tiền xăng đi khám tại bệnh viện Đ ngày 04/12/2023 cả đi và về là 200.000đồng.
  • + Chi phí di chuyển tái khám tại bệnh viên Sài Gòn ITO phú Nhuận ngày ngày 11/01/2024 và ngày 25/01/2024 là 1.560.000đồng.

Tổng số tiền chi phí khám bệnh tại bệnh viện S1 được chấp nhận là 23.628.000đồng.

Thu nhập trung bình bị mất tổng cộng 53 ngày x 300.000đồng là 15.900.000đồng.

Thu nhập bị giảm sút là 60 ngày x 300.000đồng là 18.000.000đồng,

Tổn thất tinh thần 06 tháng lương tối thiểu là 10.800.000đồng.

Tổng cộng các khoản bị cáo phải bồi thường cho bà S là 70.933.000đồng nhưng được trừ vào số tiền 40.000.000đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001239 ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho bà S số tiền 30.933.000đồng.

Đối với ông Trịnh Minh T, quá trình điều tra xác định ông T cầm cây tre nhằm mục đích không cho gia đình ông Đ lấy cà phê đi, ông T không sử dụng cây tre đánh gây thương tích cho ai. Ông Lê Văn Đ cũng xác định không bị ông T đánh trúng người và không bị thương tích nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

Đối với việc ông Lê Văn T1 dùng tay, chân đánh vào người ông T gây thương tích cho ông T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, ngày 23/4/2024, Công

8

an huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPHC đối với Lê Văn T1 về hành vi cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự với số tiền là 6.500.000đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với Trịnh Minh T2Nguyễn Thị N, quá trình điều tra xác định T2 đánh vào mặt bà S tuy nhiên không để lại thương tích và Nguyễn Thị N thấy T2 đánh bà S thì có vào xô T2 ra, khi T2 ngã xuống đất thì T2 dùng chân đạp vào người của N, thấy vậy N tát T2 hai cái. Xét thấy Trịnh Minh T2 là người bị khuyết tật bẩm sinh về khả năng vận động, nghe, nói, trí tuệ và được Ủy ban nhan dân xã Đ cấp giấy xác nhận khuyết tật nặng nên không có khả năng nhận thức đối với hành vi của mình. Nguyễn Thị N dùng tay xô đẩy và tát vào mặt T2 để ngăn không cho T2 tiếp tục đánh bà SN với mục đích tự vệ, hơn nữa T2 không bị thương tích gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Xử lý vật chứng: vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà là 01 khúc mía màu tím, dài khoảng 60cm, đường kính 3.5cm, một đầu bị vỡ, một đầu cắt chéo. Đây là hung khí bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Thị H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Trương Thị H 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trương Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tại không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

9

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự 2015

Buộc bị cáo Trương Thị H phải tiếp tục bồi thường cho bà Trần Thị Thu S số tiền 30.933.000đồng (Ba mươi triệu chín trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Giao cho bà Trần Thị Thu S số tiền 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0001239 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà.

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên: tịch thu tiêu hủy 01 khúc mía màu tím, dài khoảng 60cm, đường kính 3.5cm, một đầu bị vỡ, một đầu cắt chéo

(có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 28/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.547.000đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

10

Nguyễn Thị Sơn Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Luân

Nguyễn Xuân Ban

Nguyễn Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS - ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 131/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Trương Thị H phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger