|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2025/DS-ST Ngày: 10/6/2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Bà Trần Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 423/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số F, đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1983 (Theo văn bản ủy quyền ngày 14/10/2024).
Địa chỉ: Số B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L), sinh năm 1961.
Địa chỉ: Số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Y trình bày:
Năm 2019, gia đình ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) muốn kinh doanh nhưng có khó khăn về tài chính nên ông N đã đến gặp bà Bùi Thị Thu H để vay tiền. Theo đó, ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) đã vay tiền của bà Bùi Thị Thu H các lần như sau:
- Ngày 10/10/2019, vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) có lập tờ giấy mượn tiền, ông Đinh Quốc N hứa trả tiền cho bà Bùi Thị Thu H bắt đầu từ ngày 10/10/2019 đến ngày 10/11/2019.
- Ngày 16/10/2019, vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) có lập tờ giấy mượn tiền, ông Đinh Quốc N hứa trả tiền cho bà Bùi Thị Thu H bắt đầu từ ngày 16/10/2019 đến ngày 10/11/2019.
Từ ngày ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) vay tiền của bà Bùi Thị Thu H đến nay nhưng không trả nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận.
Vì vậy, bà Bùi Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) phải trả lại cho bà Bùi Thị Thu H số tiền nợ gốc 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 10/11/2019 đến khi kết thúc vụ án.
* Bị đơn ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L): Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không rõ ý kiến.
Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Y trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) phải trả lại cho bà Bùi Thị Thu H tiền nợ gốc 40.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 10/11/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 10/6/2025 với số tiền 22.333.333 đồng.
Tổng số tiền ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) phải trả cho bà Bùi Thị Thu H là 62.333.333 đồng (Trong đó, 40.000.000 đồng nợ gốc và 22.333.333 đồng nợ lãi).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) thanh toán 40.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi 10%/năm. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Theo Biên nhận mượn tiền ngày 16/10/2019 của ông Đinh Phan Lê G cụ thể địa chỉ cư trú tại số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, theo thông tin Công an nhân dân phường A cung cấp thì được biết ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) đã bán nhà đi từ năm 2015, hiện đi đâu, làm gì địa phương không rõ. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Xét bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Ngoài ra, trong quá trình tố tụng bị đơn ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình nên được xem là từ bỏ quyền tranh tụng cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 6, Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ làm cơ sở để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo Biên nhận mượn tiền ngày 16/10/2019 của ông Đinh Phan Lê C nội dung như sau:
“Tôi tên: Đinh Phan L, NS 1961, CMND số [...]. Đ/c: 91/1 CMT8, P.A, Q.N, TP ..
Tôi có mượn chị H phường C, quận N, TP ..
Với số tiền: 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 10/10/2019 đến ngày 10/11/2019 hoàn trả số tiền trên.
Đợt 2: Với số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 16/10/2019 đến ngày 10/11/2019 hoàn trả số tiền trên...”.
Hội đồng xét xử nhận thấy theo Giấy chứng minh nhân dân số [...] do Giám đốc Công an thành phố C cấp ngày 24/5/2013 cho ông “ĐỊNH QUỐC NGHĨA, ĐỊNH PHAN LÊ” và Sổ hộ khẩu số 10780 cấp cho hộ bà Đinh Thị Hồng T ngày 15/10/2011 ghi thành viên hộ gia đình có ông “Đinh Quốc N” tên gọi khác “Đinh Phan Lê " nên có cơ sở xác định ông Đinh Quốc N có tên gọi khác Đinh Phan Lê L1 cùng một người.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định từ khi vay tiền đến nay ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi. Do đó, việc nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H khởi kiện yêu cầu buộc ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) thanh toán số tiền nợ vay 40.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi với số tiền 22.333.333 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Biên nhận mượn tiền ngày 16/10/2019 của ông Đinh Phan Lê C1 ghi nhận thời hạn trả nợ vay ngày 10/11/2019 mà không ghi nhận thỏa thuận lãi suất cho vay nên được xác định là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi.
Căn cứ khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 10/11/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 10/6/2025 là có cơ sở chấp nhận: 40.000.000 đồng X 10%/năm X 05 năm 07 tháng = 22.333.333 đồng.
Như vậy, tổng số tiền ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) có nghĩa vụ thanh toán cho bà Bùi Thị Thu H là 40.000.000 đồng + 22.333.333 đồng = 62.333.333 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H được nhận lại 1.105.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000755 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H được nhận lại 1.105.000 đồng (Một triệu, một trăm lẽ năm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000755 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận với số tiền 3.116.000 đồng (Ba triệu, một trăm mười sáu nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo:
Buộc bị đơn ông Đinh Quốc N (Đinh Phan L) có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị Thu H tổng số tiền nợ vay là 62.333.333 đồng (Sáu mươi hai triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Trong đó, tiền nợ gốc 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và 22.333.333 đồng (Hai mươi hai triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Hứng |
Bản án số 131/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 131/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
