|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-12-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Thừa
Ông Cao Thanh Việt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 459/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2024/QĐST-HNGĐ và thông báo đưa vụ án ra xét xử số 475/2024/TBXXST-HNGĐ cùng ngày 05 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công B, sinh năm 1994. Có mặt.
Địa chỉ: Số D ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số D ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và tờ tự khai ngày 25/7/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Công B trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh và chị T tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, TP Cần Thơ ngày 07/7/2015. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng dần về sau vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cự cãi do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng sống ly thân khoảng từ năm 2019 cho đến nay.
Nay nhận thấy vợ chồng không thể đoàn tụ để tiếp tục chung sống, xây dựng cuộc sống hạnh phúc nên anh cương quyết xin ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Phúc H, sinh ngày 13/3/2017, cháu H đang sống chung với anh, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị Bích T vắng mặt, vụ kiện không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn khởi kiện của anh B việc yêu cầu ly hôn với chị T thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình, bị đơn có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Chị T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị T xác lập hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân từ khoảng năm 2019 cho đến nay, nay xác định vợ chồng không thể hàn gắn nên anh B cương quyết xin ly hôn. Quá trình tố tụng tòa án đã tiến hành mở phiên họp hai lần cho các bên có cơ hội hàn gắn để xây dựng hạnh phúc nhưng chị T đều vắng mặt, không có thiện chí đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa anh B và chị T đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ để tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh B và chị T.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung, theo lời trình bày của anh B, việc ghi nhận ý kiến gia đình chị T, ý kiến cháu H cho thấy cháu H vẫn đang chung sống với anh B. Chị T không có ý kiến gì tranh chấp quyền nuôi con, anh B thì có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử nhận thấy, xét theo nguyện vọng của cháu H và để ổn định cuộc sống cho con chung chưa thành niên thì cần thiết giao cháu H cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận anh Bằng K yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về chia tài sản: Anh B khai không có nhưng chưa ghi nhận được ý kiến chị T nên cần tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi tranh chấp.
[2.4] Về nghĩa vụ chung: Anh B khai không có nhưng chưa ghi nhận được ý kiến chị T nên cần tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi tranh chấp.
[3] Về án phí: Anh B phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Công B được ly hôn với chị Nguyễn Thị Bích T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Phúc H, sinh ngày 13/3/2017 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị T không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, chị T không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh B. Nếu có thì anh B có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom của chị T.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
- Về chia tài sản: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có tranh chấp.
- Nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có tranh chấp.
- Về án phí: Anh Nguyễn Công B phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng anh B đã nộp theo biên lai thu số 0008287 ngày 16/10/2024 thành tiền án phí.
Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thương |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Văn Thừa Cao Thanh Việt |
Nguyễn Thị Hoài Thương |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
