|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HS-ST
Ngày: 12 tháng 12 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường và bà Ngô Thị Lệ Thi.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Thái Trần Bảo M, sinh năm 2005, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Ngọc T và bà Trần Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 08/8/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh An Giang từ ngày 28/7/2024, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Đoàn Công T2, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1967; nơi cư trú: số C, Nguyễn Văn T4, khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ A, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
2
Người làm chứng: Võ Hồng X, sinh năm 1966; Trần Văn T5, sinh năm 1967 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thái Trần Bảo M đã từng làm thuê tại tiệm rửa xe của ông Đoàn Công T2 (tại tổ B, Khóm F, phường C, thành phố C) nhưng ông T2 đã cho M nghỉ làm. Trưa ngày 15/7/2024, M đến tiệm rửa xe của ông T2 xin vào làm thuê tại tiệm rửa xe nhưng ông T2 không đồng ý. Sau đó, M xin ông T2 ngủ lại một đêm, ông T2 và bà X (vợ ông T2) đồng ý.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi T2 đi về nhà, M thấy xe mô tô Wave trung quốc, màu xanh, biển số 67B2 – 873.27 của T2 để trong tiệm rửa xe nên M lấy chìa khóa xe mở công tắc xe và điều khiển xe mô tô 67B2 – 873.27 đến khu vực gần chợ C cất giấu và gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh P để bán xe thì P đồng ý. Khoảng 05 giờ ngày 16/7/2024, M chạy xe mô tô 67B2 – 873.27 đến nhà P (tại khu vực khóm M, phường V, thành phố C) bán xe mô tô cho P với giá 2.500.000 đồng (M không nói cho P biết là xe trộm cắp mà có), P nói với M là P sẽ đổi cho M 01 chiếc xe mô tô khác và đưa thêm 1.000.000 đồng thì M đồng ý. P đưa xe và 500.000 đồng cho M, đến 09 giờ cùng ngày, P sẽ đưa M thêm 500.000 đồng còn lại. Sau đó P gọi điện thoại cho M biết P chạy xe mua của M bị chủ xe chặn lại, nên M điều khiển xe mô tô đến trả lại xe cho P. Riêng xe mô tô 67B2 - 873.27, do sợ ông T2 báo Công an bắt nên M không dám đến nhà P lấy lại xe. Còn P sau khi nhận xe mô tô từ M thì bỏ đi lên thành phố Hồ Chí Minh làm thuê. Đến ngày 10/10/2024, P về lại thành phố C thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C mời làm việc và P giao nộp xe mô tô 67B2 - 873.27.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô, nhãn hiệu NAKASEI, màu sơn trắng, không biển số. Đã trả lại cho bị hại Đoàn Công T2.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1958/KL-ĐG ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu NAKASEI, màu xanh, biển số 67B2 - 87327, trị giá 2.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 119/CT-VKSCĐ-HS ngày 13/11/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Thái Trần Bảo M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Thái Trần Bảo M khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
3
Bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra tất cả lời khai của họ đều phù hợp với nội dung, diễn biến của vụ án và phù hợp Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Thái Trần Bảo M từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vật chứng đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra nên không đề cập xử lý; bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết; về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, tại tổ B, khóm F, phường C, thành phố C, bị cáo Thái Trần Bảo M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Đoàn Công T2, trị giá 2.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Thái Trần Bảo M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
4
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền để tiêu xài và để có tiền mua ma túy sử dụng mà bị cáo đã lợi dụng lòng tin của người thân để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế và nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng về nhân thân bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành xong; Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần lao động, nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu NAKASEI, màu sơn trắng, không biển số, quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại nên không xem xét giải quyết.
5
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với: Bị cáo Thái Trần Bảo M lấy trộm xe mô tô của Đoàn Công T2 bán cho Nguyễn Thanh P, thì P không biết xe mô tô trên do M trộm cắp của người khác mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Thái Trần Bảo M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái Trần Bảo M 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt chấp hành án.
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thái Trần Bảo M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Lâm Ngọc Phượng |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Thái Trần Bảo M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái Trần Bảo M 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt chấp hành án
