|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HS-ST Ngày: 06/12/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Chu Hồng Thái
2. Bà: Đặng Thị Sinh
Thư ký phiên tòa: Ông Ma Đình Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLHSST ngày 15/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Trương Văn T, sinh ngày 16/01/1959
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày;
Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 5/10; Nghề nghiệp: Không.
Bố: Trương Văn X (Đã chết); Mẹ: Triệu Thị C (đã chết)
Vợ: Dương Thị Sản sinh năm: 1961.
Con: Có 03 con, một con đã chết, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1988.
Gia đình có 09 chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại bản án số 12 ngày 23/5/1989 Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái xử phạt T 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/1990. Bản án đã được xoá án tích.
- + Năm 1991 Công an xã P, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi đánh người.
- + Bản án số 02 ngày 09/01/1993 Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái xử phạt T 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, Gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/1994. Bản án đã được xoá án tích.
- + Tại Quyết định số 0031789 ngày 13/2/2018 Công an huyện Đ xử phạt T 750.000 đồng về hành vi đánh nhau. Chấp hành xong ngày 13/3/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Linh Văn S, sinh ngày 14/12/1976
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng;
Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 3/12; Nghề nghiệp: Không.
Bố: Linh Văn S1 (Đã chết); Mẹ: Trương Thị K, sinh năm: 1952
Vợ: Ngọ Thị H, sinh năm: 1980
Con: con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nịnh Văn T1, sinh ngày 06/6/1978
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm K, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: sán chí; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Bố: Nịnh Văn P (Nịnh Minh P1), sinh năm: 1933; Mẹ: Hoàng Thị V, sinh năm: 1933
Vợ: Đào Thị H1, sinh năm: 1985
Con: con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012
Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Mã Văn Đ, sinh ngày 20/11/1979
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng;
Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Không.
Bố: Mã Văn S2, đã chết; Mẹ: Lương Thị P2, sinh năm: 1956
Vợ con: Chưa có
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Quyết định số 328, 329 cùng ngày 28/12/2021 UBND xã P, huyện Đ quyết định quản lý cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Đ (Chấp hành xong ngày 28/3/2022).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).
*. Người làm chứng:
Anh: Đỗ Quốc B, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
*. Người chứng kiến:
Chị: Đào Thị H2, sinh năm: 1972 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 02/8/2024 Tổ công tác của Công an xã P, huyện Đ làm nhiệm vụ tại xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện một nhóm đối tượng đang tụ tập tại nhà Trương Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì phát hiện nhóm đối tượng trên đang ngồi tại bàn uống nước nhà T và đang sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít, gồm: Trương Văn T, Linh Văn S, Nịnh Văn T1, Đỗ Quốc B. Tổ công tác phát hiện tại bàn uống nước trước mặt S và T1 có 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, trước mặt T và B có 01 tờ giấy bạc đã bị gấp, xoắn, biến dạng và 02 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 dao tem. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ và niêm phong vật chứng bao gồm:
- + 01 mảnh giấy bạc đã bị vo lại thu giữ của T (Niêm phong vào bì T1).
- + 01 tờ giấy bạc đã qua sử dụng bên trong có một ít chất bột màu trắng; 01 gói giấy bên trong có 01 cục chất bột màu trắng thu của T1 (Niêm phong vào phong bì ký hiệu T2).
- + 01 mảnh bạc đã qua sử dụng, 01 gói giấy (một mặt màu trắng, một mặt màu vàng) bên trong có chất bột màu trắng thu giữ của S. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu S).
- + 01 mảnh bạc đã qua sử dụng thu giữ của B. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu D).
- + 698.000đ tiền N (Thu trên người Nịnh Văn T1). (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A).
- + 02 bật lửa màu đỏ và 01 dao tem nhãn hiệu Crow.
Cùng ngày 02/8/2024 Linh Văn S và Nịnh Văn T1 tự nguyện giao nộp cho Công an xã P, huyện Đ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 (thu của S), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 prime; 01 chiếc xe mô tô BKS Honda Wave A màu đen BKS 20M6-5257 (thu của T1).
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an xã P đã chuyển hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra Linh Văn S và Nịnh Văn T1 cùng khai nhận số chất bột trắng bị thu giữ là ma tuý, loại Heroine do L, T1 góp tiền mua của Mã Văn Đ mang về nhà T để sử dụng chung. Ngày 06/8/2024 Mã Văn Đ đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi bán ma tuý cho S vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/8/2024 tại nhà của Đ.
Ngày 03/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật đối với Nịnh Văn T1, Linh Văn S, Trương Văn T kết quả khám xét không thu giữ gì. Ngày 06/8/2024 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật đối với Mã Văn Đ kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 22 giờ 40 phút ngày 02/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K1, Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ tại bàn uống nước nhà Trương Văn T, kết quả:
- + Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T2 (thu giữ của T1) có khối lượng 0,104 gam. (Niêm phong vào phong bì T3 làm mẫu giám định).
- + Vỏ giấy gói chất bột màu trắng trên được niêm phong vào phong bì T4 làm mẫu giám định.
- + Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu S (thu giữ của S) có khối lượng 0,032 gam. (Niêm phong toàn bộ vào phong bì S1 làm mẫu giám định).
- + 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc (một mặt trắng, một mặt vàng) (được niêm phong vào phong bì S2 làm mẫu giám định).
- - Tại Kết luận giám định số 900/KL-KTHS ngày 10/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- + Tìm thấy chất ma túy loại Heroine bám dính trên các mẫu vật trong các phong bì niêm phong ký hiệu D, S2, T1, T4.
- + Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu S1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,032 gam.
- + Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu T3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,104 gam.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của T1, S, T, B để giám định. Tại các Kết luận giám định độc chất số 108 ngày 14/8/2024, số 107 ngày 16/8/2024, số 106 ngày 14/8/2024, số 105 ngày 16/8/2024 của Trung tâm y tế Sở Y kết luận: Trong nước tiểu gửi giám định của Nịnh Văn T1, Linh Văn S, Trương Văn T, Đỗ Quốc B đều tìm thấy M và C1.
Tại cơ quan điều tra Trương Văn T, Linh Văn S, Nịnh Văn T1, Đỗ Quốc B và Mã Văn Đ cùng khai nhận như sau:
Bản thân Đ là đối tượng nghiện ma tuý và thường xuyên đi mua ma tuý về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/8/2024 Mã Văn Đ một mình đi xe bus xuống khu vực đường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên mua của một người đàn ông không biết tên và địa chỉ 01 gói ma tuý, loại Heroine gói bằng túi nilong màu đen với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được H3, Đ mang về nhà đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày thì Đ sử dụng một phần cho bản thân, phần còn lại Đức gói trong tờ giấy bạc của B1 rồi cất vào túi quần dài bên phải mặc trên người nhằm mục đích nếu có ai hỏi thì sẽ bán kiếm lời.
Đối với T, S, B đều là các đối tượng sử dụng chất ma tuý. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 02/8/2024 Trương Văn T đang ở nhà thì có B, S đến nhà T. Tại nhà T, T và B hỏi S có ma túy không để cùng nhau sử dụng thì S bảo không có tiền nên không mua được. Lúc này T1 sử dụng số điện thoại 0972.171.xxx gọi đến số điện thoại 0973.632.xxx của S để rủ S góp tiền mua ma túy về sử dụng. S đồng ý. Một lúc sau T1 điều khiển xe mô tô BKS: 20M6-5257 đến nhà T. Khi đến nhà T, T1 rủ S góp tiền mua ma túy về sử dụng thì S nói dối T1 là ba người đã góp 100.000₫ (thực tế S có 10.000đ, T và B không có tiền). Sau đó T1 đưa cho S 500.000đ nói là sẽ góp 200.000₫ để mua ma túy và số còn lại phải trả lại cho T1, S đồng ý. T1 gọi điện đến số điện thoại 0369.710.xxx của Mã Văn Đ nhưng Đ không nghe máy. Do biết Mã Văn Đ cũng là đối tượng nghiện ma tuý nên S điều khiển xe mô tô của T1 đến nhà Đ hỏi mua ma tuý. Trên đường đi S mua 01 bao thuốc lá hết 12.000 đồng. Khi S đến nhà Đ thì Đ đang ở nhà. S hỏi Đ “có hàng không, bán cho anh ba trăm” (ý là hỏi mua của Đ 300.000đ tiền ma tuý của Đ), Đ đồng ý bán và nhận tiền của S rồi Đ lấy từ trong túi quần dài bên phải đang mặc đưa cho S 01 cục chất ma tuý, loại Heroine gói bằng giấy bạc của bao thuốc lá B1. Sau khi mua được H3, S điều khiển xe mô tô mang Heroine về nhà T. Về đến nhà T, S bỏ gói H3 ra bàn uống nước. S trả cho T1 198.000₫ và nợ lại Tám 102.000đ. Do T1 góp nhiều tiền hơn nên T1 lấy con dao tem có sẵn ở bàn uống nước chia cục ma túy, loại Heroine ra thành hai phần, T1 lấy phần nhiều hơn còn lại là của S. Lúc này B và T xin Heroine của S để sử dụng thì S đồng ý và S lấy dao tem cắt cho T và B mỗi người một ít Heroine. Do chỉ có 02 cái bật lửa ga có sẵn trên bàn nên B và T sử dụng ma tuý bằng hình thức hít trước sau đó đến S và T1 sử dụng. Khi S và T1 đang sử dụng ma tuý bằng hình thức hít tại bàn uống nước trong nhà T thì bị Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ 02 gói ma tuý, loại Heroien trước mặt S và T1 cùng một số vật chứng có liên quan khác trong đó có 01 chiếc bật lửa ga và dao tem là của T. Ngày 06/8/2024 Mã Văn Đ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi bán ma tuý cho S như đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của các bị can phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc; vật chứng thu giữ; các kết luận giám định, kết luận giám định độc chất, sơ đồ và biên bản xác định hiện trường, lời khai của người chứng kiến, lời khai nhận tội của các bị can.
Vật chứng của vụ án gồm:
- + Các phong bì niêm phong ký hiệu T1, T3, T4, T5, S1, S2, S3, D.
- + 698.000đ tiền N.
- + 02 bật lửa màu đỏ và 01 dao tem nhãn hiệu Crow.
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7.
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 prime.
- + 01 chiếc xe mô tô BKS Honda Wave A, màu đen BKS 20M6-5257.
Hiện những vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng, tài khoản của Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại cáo trạng số 130/CT-VKSĐT ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Trương Văn T, Linh Văn S, Nịnh Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 BLHS. Bị cáo Mã Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1, Điều 251 BLHS. Bị cáo Linh Văn S, Nịnh Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên quyết định truy tố, đã luận tội đối với các bị cáo Trương Văn T, Linh Văn S, Nịnh Văn T1, Mã Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Đối với Trương Văn T: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Điều 17 Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo T mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/8/2024.
- - Đối với Linh Văn S: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Điều 17 Điều 58 Điều 55 BLHS xử phạt bị cáo S mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo quy định.
- - Đối với Nịnh Văn T1: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm , khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 17 Điều 58 Điều 55 BLHS xử phạt bị cáo T1 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo quy định.
- - Đối với Mã Văn Đ: áp dụng khoản 1 khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đ mức án từ 30 đến 36 tháng tù.
Các bị cáo T, S, T1 phạm tội không có tính chất vụ lợi, là đối tượng nghiện ma tuý nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Mã Văn Đ phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 BLHS.
Xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- + Tịch thu tiêu huỷ: Các phong bì niêm phong ký hiệu T1, T3, T4, T5, S1, S2, S3, D; 02 bật lửa màu đỏ và 01 dao tem nhãn hiệu Crow.
- + Tịch thu sung quỹ công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội của S và T1 là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 prime; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave A, màu đen BKS 20M6-5257 của T1.
- + Truy thu số tiền 300.000đ của bị cáo Đ thu lời bất chính từ việc bán ma tuý mà có.
- + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 698.000đ tiền N của T1.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Các bị cáo S, T1, Đ nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với xã hội và gia đình. Riêng bị cáo T không trình bày ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 02/8/2024 tại nhà của Trương Văn T thuộc xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nịnh Văn T1 đã góp số tiền 200.000 đồng đưa cho Linh Văn S để S đến nhà Mã Văn Đ thuộc xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mua của Đ 01 gói ma tuý, loại Heroine với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được H3, S về nhà T, T dùng dao tem của T chia Heroine thành hai phần, một phần đưa cho S, một phần T1 giữ lại để cùng nhau sử dụng. Sau đó S cho T và Đỗ Quốc B mỗi người một ít H3 để sử dụng, T và B thay phiên nhau sử dụng Heroine bằng hình thức hít tại bàn uống nước trong phòng khách nhà T. Đến khoảng 09 giờ 20 phút khi S và T1 đang sử dụng ma tuý thì bị Tổ công tác Công an xã P phát hiện lập biên bản sự việc, thu giữ tại bàn uống trước trước mặt S và T1 tổng số 0,136 gam Heroine mục đích để S và T1 sử dụng cho bản thân và một số vật chứng có liên quan khác.
Lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã được chứng minh bằng các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án, như biên bản sự việc, lời khai người chứng kiến, biên bản, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định...
Hành vi nêu trên của Trương Văn T, Linh Văn S, Nịnh Văn T1 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2, Điều 255 BLHS; Mã Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS; Linh Văn S, Nịnh Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung các điều luật quy định như sau:
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên.”
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất hành vi:
Xét về tính chất hành vi của các bị cáo T, S, T1 có tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, bị cáo Đ có tất chất nghiêm trọng. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý nhưng bị cáo vẫn cố ý tổ chức sử dụng ma tuý trái phép nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân và mua bán ma túy nhằm kiếm lời. Hành vi nguy hiểm cho xã hội đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma túy nói riêng. Nhưng các bị cáo vẫn đi vào con đường phạm tội, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS.
Bị cáo Mã Văn Đ đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nịnh Văn T1 có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba và gia đình có thành tích hiến đất nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Đối với bị cáo T là người nghiện ma túy, bị cáo T tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân rất xấu Tại bản án số 12 ngày 23/5/1989 Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái xử phạt T 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/1990. Bản án đã được xoá án tích; Năm 1991 Công an xã P, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi đánh người. Tại bản án số 02 ngày 09/01/1993 Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái xử phạt T 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, Gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/1994. Bản án đã được xoá án tích và tại Quyết định số 0031789 ngày 13/2/2018 Công an huyện Đ xử phạt T 750.000 đồng về hành vi đánh nhau. Chấp hành xong ngày 13/3/2018.
Đối với bị cáo S và T1 cả hai bị cáo tuy chưa có tiền sự và nhân thân, tuy nhiên cả hai bị cáo là người nghiện ma tuý.
Đối với bị cáo Đ là người nghiện ma túy tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng lại có nhân thân tại Quyết định số 328, 329 cùng ngày 28/12/2021 UBND xã P, huyện Đ quyết định quản lý cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Đ (Chấp hành xong ngày 28/3/2022).
Trong vụ án này các bị cáo T, S, T1 đồng phạm giản đơn cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy để cùng nhau tổ chức sử dụng nhằm thỏa mãn cho bản thân. Bị cáo Đ là người trực tiếp bán ma túy cho các bị cáo để tổ chức sử dụng. Mặc dù các bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, trở thành công dân có ích mà các bị cáo cố ý lao vào con đường phạm tội nhằm kiếm lời và thỏa mãn nhu cầu của bản thân và kiếm lời bất chính trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nên cần xử lý nghiêm.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và khối lượng ma túy thu giữ được nên: Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo như mức án mà đại diện viện kiểm sát đã luận tội với các bị cáo và buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật như vậy mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại điện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về phạt bổ sung:
- - Các bị cáo T, S, T1 phạm tội không có tính chất vụ lợi, là đối tượng nghiện ma tuý nên miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Bị cáo Mã Văn Đ phạm tội có tính chất vụ lợi nên phạt bổ sung bị cáo 5.000.000₫
[6]. Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 08 (tám) bì niêm phong có ký hiệu lần lượt là T1, T3, T4, T5, S1, S2, S3, D đều còn nguyên tình trạng niêm phong; 02 (hai) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) dao tem nhãn hiệu CROMA đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung quỹ công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội của S và T1:01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, ghi BKS: 20M6-5257 (của T1).
- - Truy thu số tiền 300.000đ của bị cáo Đ thu lời bất chính từ việc bán ma tuý mà có.
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 698.000đ tiền N của T1.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ Nhà nước.
[8]. Về nguồn gốc số chất ma túy, loại Heroine Đức bán cho S và T1 ngày 02/8/2024 Đ khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên. Do không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có căn cứ để xem xét xử lý.
Liên quan trong vụ án Đỗ Quốc B có hành vi xin Heroine của S để sử dụng ma tuý với S, T1 và T tại nhà T. Quá trình điều tra xác minh xác định khi S và T1 gọi điện rủ nhau góp tiền mua ma tuý về nhà T sử dụng thì S và T1 không nói và B không biết. Bản thân B không có tiền góp đưa cho S đi mua ma tuý. B không cung cấp công cụ, phương tiện hay đồ vật gì để cả nhóm sử dụng ma tuý tại nhà T, không đồng phạm với nhóm bị can S. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không xem xét xử lý hình sự đối với B nhưng chuyển hồ sơ đến Công an xã P, huyện Đ để xử lý hành chính đối với B về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định.
Quá trình điều tra Mã Văn Đ khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/6/2024 Đ có mua của người tên là D, trú tại: xóm G, xã P 01 gói ma tuý, loại Heroine với số tiền 200.000đ tại khu vực cổng nhà D để sử dụng. Căn cứ lời khai của Đ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành điều tra, xác minh xử lý D trong một vụ án khác.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Trương Văn T, Linh Văn S, Nịnh Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Mã Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Linh Văn S, Nịnh Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
-
Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 255 BLHS; điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Điều 47 BLHS; Điều 106 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án đối với bị cáo T.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024.
-
Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 255 BLHS; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 47 Điều 55 BLHS; Điều 106 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án đối với bị cáo S.
Xử phạt: Bị cáo Linh Văn S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024.
-
Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 255 BLHS; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 47 Điều 55 BLHS; Điều 106 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án đối với bị cáo T1.
Xử phạt: Bị cáo Nịnh Văn T1 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 106 Điều 136 Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án đối với bị cáo Đ.
Xử phạt: Bị cáo Mã Văn Đ 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Mã Văn Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
-
Về phạt bổ sung:
- - Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo T, S, T1.
- - Phạt bổ sung bị cáo Đ 5.000.000₫
-
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 08 (tám) bì niêm phong có ký hiệu lần lượt là T1, T3, T4, T5, S1, S2, S3, D đều còn nguyên tình trạng niêm phong; 02 (hai) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) dao tem nhãn hiệu CROMA đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung quỹ công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội của S và T1:01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, ghi BKS: 20M6-5257 (của T1).
- - Truy thu số tiền 300.000đ của bị cáo Đ thu lời bất chính từ việc bán ma tuý mà có.
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 698.000đ tiền N của T1.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 115/QĐ-VKSĐT ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản)
-
Về án phí:
Buộc các bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo biết biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Kao Hoàng |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; tội mua bán trái phép chất ma tuý; tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; Tội Mua bán trái phép chất ma tuý; Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử Toán 08 năm 06 tháng tù......
