Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 131/2024/DS-ST

Ngày: 05 tháng 12 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Nam

Ông Phạm Thuận

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 219/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H; Địa chỉ: Số B B N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T; Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Thanh V, ông Trần Quốc T1 và bà Trần Thị Kiều T2; Cùng địa chỉ liên hệ: Số A đường L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Quyết định ủy quyền số 2992/2021/QĐ-TGĐ ngày 31/12/2021 và Giấy ủy quyền ngày 02 tháng 7 năm 2024). (Ông T1 có mặt)

- Bị đơn: Bà Trương Thị Diệu H, sinh năm: 1962; Địa chỉ: K đường B, tổ B phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Quốc T1 trình bày:

Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (sau đây gọi tắt là H1) cho bà Trương Thị Diệu H vay căn cứ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2806/23MB/HĐTD ngày 27/3/2023, chi tiết như sau: Hạn mức cho vay: 1.700.000.000đ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng); Mục đích cho vay: bổ sung vốn lưu động kinh doanh sỉ và lẻ đồ bành các loại. Thực hiện Hợp đồng, H1 đã giải ngân cho bà H tổng số tiền theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2806/23MB/HĐTD/KUNN01, ngày ký và giải ngân: 27/3/2023, số tiền giải ngân: 1.700.000.000đ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) bằng tiền mặt cho bên thụ hưởng, thời hạn cho vay từ ngày 28/3/2023 đến ngày 27/3/2024; Lãi suất trong hạn: 13,5%/năm cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bên nhận nợ được H1 giải ngân; Lãi suất sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần hoặc theo quy định/quyết định của H1 và theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = Lãi suất LS13 + 4,50%/năm, Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.

H1 đã cấp thẻ tín dụng cho bà Trương Thị Diệu H theo hạn mức tín sử dụng số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/3/2023.

Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm sau: Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 408, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Tổ B phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trương Thị Diệu H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 768152, số vào sổ cấp GCN: H15766 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/12/2009 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2806/23MB/HĐBĐ được công chứng tại Văn phòng C ngày 27/3/2023, số công chứng 937; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận T, thành phố Đà Nẵng ngày 27/3/2023, số thứ tự 1825/TC.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà H đã trả được 98.393.914 đồng nợ lãi. Từ tháng 9/2023, bà H không thanh toán các khoản nợ gốc và nợ lãi đến hạn cho H1 và toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn. Mặc dù H1 đã nhiều lần đôn đốc, mời làm việc yêu cầu trả nợ nhưng bà H vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho H1.

2

Vì vậy, H1 khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Trương Thị Diệu H trả cho H1 tổng số nợ tiền tính đến ngày 04/12/2024 là 2.121.059.274đ (Hai tỷ, một trăm hai mươi mốt triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, hai trăm bảy mươi bốn đồng); Trong đó, nợ gốc là 1.729.976.240 đồng, lãi trong hạn là 130.750.959 đồng, lãi quá hạn là 248.282.789 đồng, phạt chậm trả lãi là 12.719.238 đồng.

Bà Trương Thị Diệu H còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng hạn mức và Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 05/12/2024 đến ngày trả hết nợ.

Trường hợp bà Trương Thị Diệu H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 408, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Tổ B phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trương Thị Diệu H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 768152, số vào sổ cấp GCN: H15766 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/12/2009.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của bà H tại H1. Nếu số tiền phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà H tại H1 thì bà H vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ tại H1.

*Bị đơn bà Trương Thị Diệu H, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:

Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là bà Trương Thị Diệu H đã không trình bày ý kiến của mình và vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị HĐXX căn cứ các điều 299, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày

3

01/11/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc bà Trương Thị Diệu H phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H tổng số tiền tính đến ngày 04/12/2024 là 2.121.059.274 đồng; Trong đó, nợ gốc là 1.729.976.240 đồng, lãi trong hạn là 130.750.959 đồng, lãi quá hạn là 248.282.789 đồng, phạt chậm trả lãi là 12.719.238 đồng.

Trong trường hợp bà Trương Thị Diệu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H1 thì tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 408, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Tổ B phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trương Thị Diệu H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 768152, số vào sổ cấp GCN: H15766 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/12/2009 sẽ được xử lý theo Điều 299 Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

Án phí DSST: bà Trương Thị Diệu H phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Trương Thị Diệu H là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời bị đơn là bà Trương Thị Diệu H có địa chỉ cư trú tại phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Trương Thị Diệu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Bà Trương Thị Diệu H vay vốn tại H1 tổng số tiền 1.730.000.000đ (Một tỷ, bảy trăm ba mươi triệu đồng) theo các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2806/23MB/HĐTD ngày 27/3/2023 vay số tiền 1.700.000.000đ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng). H1 đã giải ngân cho bà Trương Thị Diệu H theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2806/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 27/3/2023 số tiền là: 1.700.000.000 đồng.

4

Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/3/2023, theo đó, H1 đã cấp thẻ tín dụng cho bà Trương Thị Diệu H với hạn mức sử dụng số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Các hợp đồng này được ký kết hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trương Thị Diệu H mới chỉ thanh toán được cho H1 số tiền nợ lãi là 98.393.914 đồng. Từ ngày 23/11/2023, bà Trương Thị Diệu H vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 04/12/2024, bà Trương Thị Diệu H còn nợ H1 tổng số tiền là 2.121.059.274 đồng. Cụ thể:

Theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2806/23MB/HĐTD ngày 27/3/2023 còn nợ số tiền 2.064.629.286 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 130.750.959 đồng, nợ lãi quá hạn là 221.829.041 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 26.453.748 đồng.

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/3/2023 còn nợ tổng số tiền là 56.429.988 đồng, trong đó: nợ gốc là 29.976.240 đồng, nợ lãi là 26.453.748 đồng.

Bà Trương Thị Diệu H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, vi phạm các hợp đồng tín dụng đã ký kết, là người có lỗi trong việc chậm thanh toán do đó yêu cầu khởi kiện của H1 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng. Buộc bà Trương Thị Diệu H phải thanh toán cho H1 tổng số tiền tính đến ngày 04/12/2024 là: 2.121.059.274 đồng đã nhận định trên.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn là bà Trương Thị Diệu H không thanh toán được khoản nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Trương Thị Diệu H dùng tài sản thuộc sở hữu của mình là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 408, tờ bản đồ số 8, tại địa chỉ tổ B phường V, quận T, Thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 768152, số vào sổ cấp GCN: H15766 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/12/2009 để thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2806/23MB/HĐBĐ ngày 27/3/2023 đã được công chứng đồng thời được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ – Chi nhánh Quận T ngày 27/3/2023 nên phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết. Trong trường hợp bà Trương Thị Diệu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì tài sản thế chấp nêu trên sẽ được xử lý theo Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

5

Khi bà Trương Thị Diệu H thanh toán xong các khoản nợ trên thì H1 phải trả cho bà Trương Thị Diệu H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký theo quy định tại Điều 322 của Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Trương Thị Diệu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hoàn trả cho H1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bà Trương Thị Diệu H phải chịu. Số tiền này H1 đã chi, nên bà Trương Thị Diệu H có nghĩa vụ hoàn trả lại cho H1 số tiền 3.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 74; Điều 147, Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 299, Điều 303; Điều 322; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự;

- Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H đối với bà Trương Thị Diệu H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Tuyên xử:

1. Buộc bà Trương Thị Diệu H phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H số tiền tính đến ngày 04/12/2024 là: 2.121.059.274đ (Hai tỷ, một trăm hai mươi mốt triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, hai trăm bảy mươi bốn đồng). Cụ thể:

- Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2806/23MB/HĐTD ngày 27/3/2023 thì nợ gốc là 1.700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 130.750.959 đồng, nợ lãi quá hạn là 221.829.041 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 26.453.748 đồng.

6

- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/3/2023 thì nợ gốc là 29.976.240 đồng, nợ lãi là 26.453.748 đồng.

Kể từ 05/12/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2806/23MB/HĐTD ngày 27/3/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/3/2023.

Khi bà Trương Thị Diệu H thanh toán xong các khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H phải trả cho bà Trương Thị Diệu H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 768152, số vào sổ cấp GCN: H15766 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/12/2009 đứng tên bà Trương Thị Diệu H và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký theo quy định tại Điều 322 của Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp bà Trương Thị Diệu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 408, tờ bản đồ số 8, tại địa chỉ tổ B phường V, quận T, Thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 768152, số vào sổ cấp GCN: H15766 do UBND quận T, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/12/2009 đứng tên bà Trương Thị Diệu H sẽ được xử lý để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí DS-ST: 74.421.185đ (Bảy mươi bốn triệu, bốn trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm tám mươi lăm đồng) bà Trương Thị Diệu H phải chịu.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1) số tiền 34.866.696đ (Ba mươi bốn triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm chín mươi sáu đồng) tạm ứng án phí DS-ST đã nộp theo biên lai thu số 0001350 ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

3. Chi phí tố tụng: Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng bị đơn phải chịu. Số tiền này Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đã chi, nên bà Trương Thị Diệu H có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/DS-ST ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 131/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa bà Trương Thị Diệu H và Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger