Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 131/2024/HS-ST

Ngày: 25- 11- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hoàng Vinh;
  2. Ông Trần Tấn Phát.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Lê Trà Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Quốc T, sinh năm: 1989; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số H, đường C, Khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Phạm Văn G, sinh năm: 1951; Mẹ: Trương Thị Mỹ D, sinh năm: 1957 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2024, chuyển tạm giam ngày 14/6/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại tòa.

2. Châu Bích N, sinh năm: 1991; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số B, Lô B, Chung cư B, đường Đ, phường C, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Tiếp viên; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Cha: C, sinh năm: 1946 (đã chết); Mẹ: Võ Thị H, sinh năm: 1964; Chồng: Đặng Sơn H1, sinh năm 1987 (không đăng ký kết hôn), Có 02 người con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2024, chuyển tạm giam ngày 14/6/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại tòa

3. Phạm Nhựt T1, sinh năm: 2003; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố B, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Phạm Hoàng L, sinh năm: 1978; Mẹ: Dương Ngọc S, sinh năm: 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2024, chuyển tạm giam ngày 14/6/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 04 giờ ngày 07/6/2024, Công an P1, thành phố T kiểm tra nhà số G, đường Cách mạng tháng 8 thuộc Khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh của Phạm Nhựt T1, phát hiện Trường đang nằm trên giường phía trước phòng ngủ, bên trong phòng ngủ gồm Phạm Quốc T và Châu Bích N đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ trên bàn trong phòng 01 gói nylon màu đỏ, có hình con ngựa màu vàng, nhãn hiệu Ferrari có chứa chất bột nghi là ma túy, 01 chai nước ngọt nhãn hiệu Sting đã sử dụng một phần nước bên trong cùng các đồ vật liên quan. Qua làm việc, T, N khai nhận chất bột bên trong gói nylon và chất lỏng bên trong chai nước ngọt nhãn hiệu Sting là chất ma tuý T kêu N mua để cùng sử dụng, T1 khai nhận cho T, N thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma tuý nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết quả xét nghiệm: Phạm Quốc Thái dương tính với chất ma tuý, loại Ketamine và MDMA; Châu Bích N dương tính với chất ma tuý, loại Ketamine; Phạm Nhựt T1 âm tính với chất ma tuý.

Kết giám định số 1141/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với tang vật thu giữ của Phạm Quốc T và Châu Bích N, kết luận:

  • Mẫu chất bột (kí hiệu M1) bên trong 01 (một) gói nylon màu đỏ, có hình con ngựa màu vàng, nhãn hiệu Ferrari gửi giám định là chất ma tuý; Loại MDMA và Ketamine; Khối lượng 2,6242 gam (Hai phẩy sáu hai bốn hai gam);
  • Mẫu chất lỏng (kí hiệu M2) bên trong 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu STING gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý; Loại MDMA và Ketamine.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Phạm Quốc T đã thuê nhà của Phạm Nhựt T1 nhằm mục đích cùng Châu Bích N tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý 03 lần, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 30/5/2024, Phạm Quốc T đến quán K1 để hát karaoke, gặp Châu Bích N là người phục vụ. Tại đây, T rủ N tìm nơi sử dụng ma tuý, N đồng ý, thống nhất T tìm thuê địa điểm, N mua ma túy để sử dụng, tiền mua ma tuý T sẽ trả N sau. Sau đó, T liên lạc với Phạm Nhựt T1 hỏi thuê phòng của T1 tại nhà số G, CMT8, Khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để sử dụng ma tuý, đồng thời kêu T1 chuẩn bị sẵn loa nhạc, đèn chiếu, nước ngọt, khăn lạnh tại phòng để phục vụ việc sử dụng ma tuý, T1 đồng ý và đến khu vực chợ Đ thuộc Phường C, thành phố T gặp Nguyễn Minh T2, sinh năm 2000, ngụ khu phố H, phường H, thành phố T thuê loa nhạc, đèn chiếu với giá 250.000 đồng, nói dối để nhậu và nghe nhạc, T2 đồng ý. Riêng N điện thoại cho một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ, không nhớ số điện thoại) hỏi mua 01 bịch nước vui và 04 điếu thuốc lá điện tử với giá 3.900.000 đồng, thoả thuận N đến trụ điện tại hẻm F trên đường Cách mạng tháng 8 để tiền tại gốc trụ điện rồi đi chỗ khác, khi nào người này nhận được tiền sẽ để ma túy lại rồi báo cho N biết đến lấy. Sau khi mua được ma túy, T và N đi đến nhà Trường, vào phòng ngủ đã được T1 chuẩn bị sẵn cùng nhau sử dụng ma túy (nước vui) và nghe nhạc đến sáng ngày 31/5/2024. T1 không sử dụng ma tuý mà ở bên ngoài. Sau đó, T trả cho T1 2.000.000 đồng tiền thuê phòng và N 7.000.000 đồng.

- Lần thứ hai: Ngày 03/6/2024, T tiếp tục đến quán K1 hát karaoke, N rủ T cùng sử dụng ma tuý, T đồng ý. Sau đó, T liên hệ với T1 thuê phòng, kêu T1 chuẩn bị sẵn loa, đèn, nước ngọt, khăn lạnh, N liên hệ với người bán ma túy hôm trước mua 01 bịch nước vui và 02 viên thuốc lắc với giá 3.400.000 đồng. Mua được ma túy, T và N đến phòng thuê của T1 đã chuẩn bị sẵn sử dụng và nghe nhạc đến sáng ngày 04/6/2024. Sau đó, T trả cho T1 2.000.000 đồng tiền thuê phòng và bị can N 4.000.000 đồng.

- Lần thứ ba: Ngày 04/6/2024, T tiếp tục đến quán K1 hát karaoke, nhờ N mua 01 bịch nước vui và 02 viên thuốc lắc với giá 3.400.000 đồng, do mệt nên T không sử dụng ma tuý mà giữ 02 viên thuốc lắc, kêu N giữ bịch nước vui để khi nào có nhu cầu sẽ sử dụng sau. Đến ngày 06/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T nhắn tin rủ N cùng sử dụng, N đồng ý. Sau đó, T liên lạc với T1 thuê phòng, kêu T1 chuẩn bị phòng sẵn như hai lần trước. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, N mang theo bịch nước vui T kêu giữ vào ngày 04/6/2024, điều khiển xe mô tô biển số 61C1-059.95 đến đón T, T lấy theo 02 viên thuốc lắc tới nhà Trường. Khi đến nơi, T1 mở cửa cho T, N vào phòng đã được chuẩn bị sẵn rồi ra trước nằm. T, N ở trong phòng vừa sử dụng thuốc lắc và nước vui vừa nghe nhạc đến 04 giờ thì bị lực lượng Công an P1, thành phố T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra Phạm Quốc T, Châu Bích N, Phạm N1 Trường thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong ghi số 1141/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất bột là MDMA và Ketamine; 01 chai nhựa nhãn hiệu STING được dán niêm phong ghi số 1141/M2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa chất lỏng có tìm thấy chất ma túy, loại MDMA và Ketamine; 01 ly thủy tinh loại có quai; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu bạc của Phạm Quốc T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng của Phạm Nhựt T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung S23 ultra màu đen của Châu Bích N. Tất cả vật chứng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

Qua xác minh, Phạm Quốc T, Châu Bích N, Phạm Nhựt T1 không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

* Bản cáo trạng số 118/CT-VKSTPTN ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Phạm Quốc T, Châu Bích N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Nhựt T1 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh trình bày bản luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Quốc T, Châu Bích N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo T, N từ 07 năm đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Phạm Nhựt T1 phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo T1 từ 07 năm đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số 1141/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất bột là MDMA và Ketamine; 01 chai nhựa nhãn hiệu STING được dán niêm phong ghi số 1141/M2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dầu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa chất lỏng có tìm thấy chất ma túy, loại MDMA và Ketamine; 01 ly thủy tinh loại có quai.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu bạc của Phạm Quốc T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng của Phạm Nhựt T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung S23 ultra màu đen của Châu Bích N. Buộc bị cáo T1 nộp tiền thu lợi bất chính số tiền 4.000.000 đồng.

* Các bị cáo T, N, T1 không tự bào chữa, không tranh luận.

* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của các bị cáo nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa các bị cáo Phạm Quốc T, Châu Bích N, Phạm Nhựt T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

    Trong các ngày 30/5/2024, 03/6/2024 và 07/6/2024, tại nhà số G đường C thuộc Khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, Phạm Quốc T và Châu Bích N có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý, T là người thuê địa điểm, trả tiền mua ma tuý, N trực tiếp mua ma tuý, Phạm Nhựt T1 có hành vi chứa chấp cho T và N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, có đủ căn cứ xác định các bị cáo T, N đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T1 đã phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

  3. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với tính chất rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả hành vi của mình nhưng vẫn cố ý phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo nên cần phải xét xử nghiêm đối với các bị cáo.
  4. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  5. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tự thú về hành vi phạm tội trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T1 được Đảng ủy Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh khen thưởng có thành tích trong công tác vận động quần chúng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung. Các bị cáo do có tính chất, mức độ hành vi phạm tội ngang nhau nên chịu mức hình phạt ngang nhau.
  7. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt chính cũng đã đủ tính răn đe đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  8. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số 1141/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất bột là MDMA và Ketamine; 01 chai nhựa nhãn hiệu STING được dán niêm phong ghi số 1141/M2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dầu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa chất lỏng có tìm thấy chất ma túy, loại MDMA và Ketamine; 01 ly thủy tinh loại có quai do là chất cấm và công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu bạc của Phạm Quốc T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng của Phạm Nhựt T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung S23 ultra màu đen của Châu Bích N. Buộc bị cáo T1 nộp tiền thu lợi bất chính số tiền 4.000.000 đồng.

  9. Đối với người bán ma túy cho Châu Bích N, do không rõ họ tên địa chỉ chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Tây Ninh tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

    Đối với Nguyễn Văn T3 không biết T1 thuê loa đèn để phục vụ cho việc T, N sử dụng trái phép chất ma tuý nên không xử lý.

  10. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  11. Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
    2. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Châu Bích N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Châu Bích N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
    3. Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Nhựt T1 phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Nhựt T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số 1141/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất bột là MDMA và Ketamine; 01 chai nhựa nhãn hiệu STING được dán niêm phong ghi số 1141/M2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N2, trợ lý giám định Tạ Minh P và dầu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa chất lỏng có tìm thấy chất ma túy, loại MDMA và Ketamine; 01 ly thủy tinh loại có quai.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu bạc của Phạm Quốc T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng của Phạm Nhựt T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung S23 ultra màu đen của Châu Bích N. Buộc bị cáo T1 nộp tiền thu lợi bất chính số tiền 4.000.000 đồng.

    Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016: Các bị cáo Phạm Quốc T, Châu Bích N, Phạm Nhựt T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND TPTN;
  • - Đội ĐTTP về TTATXH;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN;
  • - CC THADS TPTN;
  • - THAHS;
  • - Phòng Lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 131/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử tù giam đối với các BC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger