Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 131/2024/HS – ST.

Ngày: 19-11-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Minh.
  2. Bà Đào Thị Mộng Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái T – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/HS.ST ngày 11/10/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN THÀNH T1 (ÌNH)

Sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn S, sinh năm 1968; Mẹ: Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 1971. Hiện cùng ở khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 31/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 15/11/2019, chưa được xóa án tích.

Ngày 08/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 20/4/2023, chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

Ngày 09/6/2020, bị chủ tịch UBND thị trấn P ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn, thời hạn 03 tháng, từ ngày 09/6/2020 đến ngày 14/9/2020 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 06/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 9 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST.

Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

Bị hại:

Bà Từ Thị Mỹ K - Sinh năm 1994.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Bà K có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Nhật L – sinh năm 1983(Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thành T1 (Ình), sinh năm 1995, trú tại khu phố P, thị trấn P, huyện H đang có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” và 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, trong thời gian chưa được xoá án tích, T1 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2023, Nguyễn Thành T1 điều khiển xe mô tô biển số 86L1-8259 chở mẹ ruột là bà Lê Thị Ngọc T2 đến Phòng khám Đ1, thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H để khám bệnh. Khi đến đây, T1 dừng xe mô tô 86L1-8259 ở trước cổng để bà T2 đi vào trong khám bệnh, còn T1 điều khiển xe mô tô 86L1-8259 đi chơi, chờ đón bà T2 về. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô 86L1-8259 quay lại Phòng khám Đ1 để đón bà T2 thì thấy bà T2 đang ngồi trong sảnh chờ lấy thuốc nên hỏi bà T2 đã khám xong chưa, bà T2 trả lời đang chờ lấy thuốc nên T1 đứng chờ. Trong lúc chờ bà T2, T1 đi lại trong sảnh phòng khám. Khi đi ngang qua phòng trực cấp cứu, T1 nhìn thấy trên giường có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 256Gb, màu vàng gold của chị Từ Thị Mỹ K, sinh năm 1994, ở khu phố P, thị trấn P, huyện H (là nhân viên y tế trực cấp cứu). Thấy xung quanh không có ai, T1 nảy sinh ý định lấy chiếc điện thoại trên bán lấy tiền tiêu xài. T1 lén lút đi vào trong phòng lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone trên đi ra khỏi phòng, bỏ vào túi quần lửng đang mặc rồi đi ra sân lấy xe mô tô biển số 86L1-8259 điều khiển đi xuống thành phố P tìm chỗ tiêu thụ. Khi đến Cửa hàng điện thoại APPLE 86, địa chỉ tại số A đường T, phường P, thành phố P do ông Nguyễn Nhật L, sinh năm 1983, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P làm chủ. T1 đi vào nói dối ông L là điện thoại nhặt được muốn bán. Tin tưởng T1 nên ông L đồng ý mua với giá mua 2.500.000 đồng để lấy linh kiện do điện thoại cài mật khẩu thì T1 đồng ý bán. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô đi chơi và tiêu xài hết số tiền trên.

Sau khi sự việc xảy ra, chị Từ Thị Mỹ K đến Công an thị trấn P trình báo sự việc. Công an thị trấn P đã mời T1 về làm việc và tạm giữ một số đồ vật có liên quan để điều tra xác minh.

Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 02 năm 2024

của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện H kết luận:

01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng gold, dung lượng 256Gb (đã qua sử dụng), thời điểm định giá ngày 18/12/2023, giá trị là 10.500.000 đồng.

01 sim điện thoại, hiệu Vinaphone, thời điểm định giá ngày 18/12/2023, giá trị là 65.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 10.565.000 đồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11Promax, màu vàng gold, tình trạng không có camera sau.
  • + 01 mắt camera điện thoại loại 03 mắt, có số Seri: 02128-A1945MK075 và 02138-A944MK055.
  • + 01 cụm Fecaid (nhận diện khuôn mặt) có số Seri: 821-02295-05MYC4319025 và mã CTH944188KYX9AV+P07BCKXAEYB.
  • + 01 màn hình điện thoại Iphone 11 Promax, mặt trước màu đen, có ký hiệu mã QR và mã số 1A8K, 50336, F305 – 03.

Tất cả vật chứng trên sau khi tạm giữ và làm rõ, đồng thời cho lắp ráp các linh kiện trên vào điện thoại thu giữ được thành điện thoại Iphone 11Promax, màu vàng gold hoàn chỉnh trả lại cho chủ sở hữu là chị Từ Thị Mỹ K theo đúng quy định.

  • - 01 xe mô tô hiệu DYOR, màu đỏ biển số 86L1-8259 do bà Lê Thị Ngọc T2 (là mẹ ruột của T1) làm chủ sở hữu. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô trên cho bà T2 theo quy định.
  • - 01 USB, hiệu Kingston, lưu trữ 07 file video từ camera an ninh tại Phòng khám Đ1 ghi lại hình ảnh T1 đi vào phòng trực cấp cứu và đi ra được chuyển cùng hồ sơ vụ án.

Về dân sự:

Chị Từ Thị Mỹ K sau khi nhận lại điện thoại không yêu cầu bồi thường gì khác. Ông Nguyễn Nhật L sau khi giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng gold và toàn bộ linh kiện bị tháo ra từ điện thoại mà T1 đã bán với giá 2.500.000 đồng, ông L không yêu cầu T1 bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKSHTB ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố Nguyễn Thành T1, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thành T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt Nguyễn Thành T1 về tội “Trộm cắp tài sản” từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù tại Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Từ Thị Mỹ K và ông Nguyễn Nhật L không yêu cầu bồi thường gì, nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành T1 khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 18/12/2023, tại Phòng khám Đ1, ở khu phố P, thị trấn P, huyện H, Nguyễn Thành T1 đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11ProMax, 256 Gb, màu vàng gold của chị Từ Thị Mỹ K, trị giá 10.565.000 đồng rồi đem đến Cửa hàng điện thoại APPLE 86 tại số A T, phường P, thành phố P bán cho ông Nguyễn Nhật L lấy số tiền 2.500.000 đồng dùng tiêu xài cá nhân.

Bị cáo Nguyễn Thành T1 đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản với tình tiết tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thành T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ, muốn có tiền tiêu sài cá nhân mà không phải lao động cực nhọc, nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật với giá trị tài sản là 10.565.000 đồng. Bị cáo T1 là người có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khi về lại địa phương, bị cáo không hòa nhập với cộng đồng, làm ăn lương thiện lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xét bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp. Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 xe mô tô hiệu DYOR, màu đỏ biển số 86L1-8259 do bà Lê Thị Ngọc T2 (là mẹ ruột của T1) làm chủ sở hữu. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô trên cho bà T2 theo quy định.

Đối với 01 USB, hiệu Kingston, lưu trữ 07 file video từ camera an ninh tại Phòng khám Đ1 ghi lại hình ảnh T1 đi vào phòng trực cấp cứu và đi ra tiếp tục lưu vào hồ sơ.

Chị Từ Thị Mỹ K sau khi nhận lại điện thoại không yêu cầu bồi thường gì khác. Ông Nguyễn Nhật L sau khi giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng gold và toàn bộ linh kiện bị tháo ra từ điện thoại mà T1 đã bán với giá 2.500.000 đồng, ông L không yêu cầu T1 bồi thường gì, nên không xem xét giải quyết.

[8] Về những vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Nhật L là người mua chiếc điện thoại trên. Tuy nhiên, ông L không biết chiếc điện thoại trên do T1 phạm tội mà có nên không phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1.Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thành T1 (Tên gọi khác: Ì) phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

Nguyễn Thành T1 (Tên gọi khác: Ì) 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tổng hợp hình phạt 09 (Chín ) tháng tù giam tại Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Buộc bị cáo Nguyễn Thành T1 (Tên gọi khác: Ì) phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB, hiệu Kingston, lưu trữ 07 file video từ camera an ninh tại Phòng khám Đ1 ghi lại hình ảnh T1 đi vào phòng trực cấp cứu và đi ra.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyễn Thành T1 phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/11/2024). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HS – ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 131/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger