Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/DS-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng

Ông Đặng Công Tâm

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 267/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/QĐXXST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1988. Địa chỉ: 3 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
  • * Bị đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1974. Địa chỉ: B H, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy N trình bày: Ngày 17/11/2020, bà N gặp bà Huỳnh Thị L để thuê mặt bằng kinh doanh shop thời trang tại địa chỉ B H, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Sau khi thống nhất, hai bên cùng nhau ký hợp đồng thuê mặt bằng (dạng viết tay, không ra công chứng) và bà N đã đặt cọc cho bà L số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) bằng tiền mặt và xác nhận bằng giấy “Giấy xác nhận đặt cọc”, đồng thời nội dung đặt cọc cũng được thể hiện trong mục Điều 3 phần 3.3 của Hợp đồng thuê mặt bằng: số tiền này sẽ được bên A (bà L) hoàn trả lại cho bên B (bà N) khi hợp đồng chấm dứt và bên B đã thanh toán hết các hóa đơn điện, nước, internet, những hư hỏng và chi phí phát sinh (nếu có) thuộc trách nhiệm của bên B cho đến thời điểm bàn giao lại mặt bằng.

Đến ngày 01/12/2023, Hợp đồng thuê mặt bằng hết thời hạn, bà N và bà L thống nhất bằng miệng tiếp tục hợp đồng thuê mặt bằng mà không cần thời hạn. Khi nào 1 trong 2 bên có nhu cầu chấm dứt hợp đồng sẽ thông báo cho bên còn lại.

Ngày 27/4/2024, bà N và bà L trao đổi qua tin nhắn và cuộc gọi zalo thống nhất chấm dứt hợp đồng thuê vào ngày 01/6/2024.

Đến ngày 01/6/2024, bà N di dời các vật dụng và đồ đạc của cửa hàng đi nơi khác, thanh toán các khoản tiền phí liên quan (ngoại trừ tiền điện tháng 05/2024 do chưa có hóa đơn), hoàn thành các nghĩa vụ liên quan, dọn dẹp sạch sẽ mặt bằng và có mặt tại địa chỉ B H để sẵn sàng bàn giao lại mặt bằng cho bà L, nhưng bà L không xuất hiện và hẹn nhận bàn giao vào lúc 9h15 ngày 02/06/2024.

Sáng ngày 02/06/2024, bà Liên tiếp T không xuất hiện mà cho 4 người đàn ông tự xưng là anh em xã hội của bà L đến nhận bàn giao, yêu cầu bà N giao chìa khóa. Bà N không đồng ý bàn giao nhà và chìa khóa cho người lạ. Mãi đến 10h cùng ngày, bà L đi ra từ nhà bên cạnh, sau khi nhìn ngắm mặt bằng thì vẫn không chịu bàn giao mà yêu cầu bà N phải thanh toán tiền 1 cái dù bạt cũ trước đây bà L nhờ bà N tháo dỡ trong quá trình cải tạo mặt bằng. Bà L báo bị mất cái dù bạt sau khi nhờ bà N tháo và yêu cầu bà N đền bù 1 khoản tiền (bà không nói số tiền cụ thể) hoặc bà sẽ trừ vào số tiền bà N đã đặt cọc khi ký kết hợp đồng. Bà N không đồng ý với yêu cầu của bà L, vì 2 lý do:

  • + Trong danh mục bàn giao mặt bằng và trang thiết bị tại thời điểm thuê mặt bằng không hề có dù bạt. Theo Điều 5 mục 5.1 khoản c và mục 5.2 khoản f bà N được phép cải tạo, trang trí mặt bằng và không có trách nhiệm bảo quản giữ gìn trang thiết bị không có trong biên bản bàn giao.
  • + Tại thời điểm cải tạo, bên bà N có liên lạc với bà L để thông báo về việc bà N không có nhu cầu sử dụng dù bạt vì nó đã bị hư, để nghị bà L tháo gỡ để bà N tiến hành trang trí mặt bằng, thì nhận được ý kiến của bà L là nhờ thợ của bà N tháo gỡ giúp bà vì bà đang nằm viện, sau đó bà sẽ cho người giúp viện ra lấy về. Vì lời nhờ vả này, bà N cho thợ tháo gỡ dù bạt và để phía trước cửa mặt bằng. Việc cất giữ không phải là nghĩa vụ của bà N và việc bị mất dù bạt (theo lời nói của bà L) không liên quan tới trách nhiệm của bà N.

Bà L bỏ đi mà không tiếp tục việc bàn giao mặt bằng, dù bà N đứng đợi. Đến chiều cùng ngày, bà L không những không hoàn trả số tiền đặt cọc mà còn nhắn tin nêu ra 1 số hư hỏng không phải do bà N gây ra, cũng không có cơ sở chứng minh hạng mục hư hỏng đó và yêu cầu bà N sửa chữa. Bà N không đồng ý với yêu cầu trên, vì vậy ngày 03/6/2024 bà N lên Công an phường N trình bày về việc không thể bàn giao mặt bằng 221 H và không còn trách nhiệm tại địa chỉ trên.

Nay bà N yêu cầu bà L trả lại số tiền đã đặt cọc 8.000.000 đồng, sau khi trừ tiền điện tháng 5/2023 là 773.172 đồng, số tiền còn lại bà L phải trả là 7.226.828 đồng (Bảy triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).

  • * Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và công khai chứng cứ nhưng bị đơn bà Huỳnh Thị L vắng mặt nên không có bản khai và không tiến hành hoà giải vụ án được.
  • * Tài liệu, chứng cứ của vụ án:
    • - Hợp đồng thuê mặt bằng số 221-HD/HĐTMB ngày 20/11/2020;
    • - Giấy xác nhận đặt cọc ngày 17/11/2020;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở để nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà của bà Nguyễn Thị Thúy N đối với bà Huỳnh Thị L là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại các Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thúy N có ký Hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh shop thời trang với bà Huỳnh Thị L. Sau khi thống nhất, hai bên cùng nhau ký hợp đồng thuê mặt bằng (dạng viết tay, không ra công chứng) và bà N đã đặt cọc cho bà L số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Ngày 01/6/2024, bà N và bà L chấm dứt hợp đồng thuê. Bà N đã thực hiện việc bàn giao mặt bằng cho bà L nên yêu cầu bà L trả lại tiền đặt cọc sau khi khấu trừ tiền điện tháng 5 là 773.172 đồng, số tiền còn lại bà L phải trả là 7.226.828 đồng (Bảy triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).

Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu trả lại tiền cọc, thì thấy: Giữa bà Nguyễn Thị Thúy N và bà Huỳnh Thị L có ký Hợp đồng thuê mặt bằng ngày 20/11/2020, bà L cho bà N thuê mặt bằng kinh doanh shop thời trang tại địa chỉ B H, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng, thời hạn thực hiện hợp đồng từ ngày 01/12/2020 đến ngày 01/12/2023. Theo thoả thuận tại Điều 3.3 của hợp đồng bà N có đặt cọc cho bà L số tiền 8.000.000 đồng để đảm bảo Bên B (bà N) thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm có liên quan nếu có phát sinh. Số tiền này sẽ được Bên A (bà L) hoàn trả lại cho Bên B khi hợp đồng này chấm dứt và Bên B đã thanh toán hết các hóa đơn tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền truyền hình, tiền internet, fax, vệ sinh môi trường; thay thế, sửa chữa các hư hỏng và những chi phí phát sinh (nếu có) thuộc trách nhiệm Bên B cho đến thời điểm bàn giao lại mặt bằng cho Bên A. Trong trường hợp Bên B phải bồi thường hư hỏng, thanh toán hóa đơn còn nợ đơn vị cung cấp dịch vụ thì Bên A có quyền khấu trừ vào tiền thế chấp. Đến ngày 01/12/2023, Hợp đồng thuê mặt bằng hết thời hạn, bà N và bà L thống nhất bằng miệng tiếp tục hợp đồng thuê mặt bằng mà không cần thời hạn. Khi nào 1 trong 2 bên có nhu cầu chấm dứt hợp đồng sẽ thông báo cho bên còn lại. Ngày 27/4/2024, bà N xác định đã thoả thuận thống nhất với bà L chấm dứt hợp đồng thuê mặt bằng từ ngày 01/6/2024. Bà N đã thanh toán các khoản tiền phí liên quan (ngoại trừ tiền điện tháng 05/2024 do chưa có hóa đơn), hoàn thành các nghĩa vụ và đã bàn giao lại mặt bằng cho bà L. Bà N xác nhận bà L đã trả tiền điện tháng 5/2023 là 773.172 đồng và đồng ý khấu trừ số tiền này, số tiền còn lại bà L phải trả là 7.226.828 đồng. Ngày 02/6/2024, bà N đã tiến hành bàn giao mặt bằng cho bà L. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L không có ý kiến phản hồi về các khoản tiền bà N phải thanh toán và các khoản chi phí phát sinh nên HĐXX không có cơ sở xem xét giải quyết. Xét thấy, Bà N và bà L đã chấm dứt hợp đồng thuê mặt bằng theo quy định tại Điều 422 Bộ luật dân sự. Do đó bà N yêu cầu bà L trả lại số tiền đặt cọc là có cơ sở nên chấp nhận nên buộc bà Huỳnh Thị L phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền đặt cọc là 7.226.828 đồng (Bảy triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).

Đối với tiền lãi chậm trả, bà N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 244, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 422 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy N đối với bị đơn bà Huỳnh Thị L về việc "“Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng".

Xử:

Buộc bà Huỳnh Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy N số tiền 7.226.828 đồng (Bảy triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 361.341 đồng.

Hoàn trả chỉ bà Nguyễn Thị Thúy N số tiên tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004265 ngày 05/07/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.

Về thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng

  • Số bản án: 131/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger