|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, tài sản chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thanh Khiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thuý Liễu
- Bà Trần Thị Minh Hiền
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Võ Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang– Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 558/2024/QĐXXST-HN ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 662/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- Bị đơn: ông Dương Văn L, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Dương Thị Như H, sinh năm 1997 (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Chị Dương Thị Thúy H1, sinh năm 2002 (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 10 năm 2021, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau: bà và ông Dương Văn L tự nguyện tiến đến hôn nhân và được sự tác hợp của hai bên gia đình nên bà và ông L tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn ngày 22/9/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (cũ) nay là huyện T. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng về sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả do ông L không lo làm ăn. Mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, không hòa hợp như trước được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Dương Văn L. Về con chung trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm Dương Thị Như H (nữ), sinh năm 1997 và Dương Thị Thúy H1 (nữ), sinh năm 2002 các con đã trưởng thành bà không có ý kiến về con chung. Bà và ông L không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Đồng thời bà Nguyễn Thị Hồng C còn yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau, về tài sản chung: bà và ông L có 02 tài sản chung gồm: Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đố số 08, loại đất LNK do hộ ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Trên đất có căn nhà cấp 4, hiện tại bà đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà sống cùng con gái trên căn nhà này, nên bà yêu cầu được ổn định căn nhà cho bà và các con có chỗ ở và Thửa đất 1430, diện tích 4519m², tờ bản đồ số 08, loại đất trồng lúa, do hộ ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Bà yêu cầu được chia đôi thửa đất này mỗi người nhận một nữa.
Bị đơn ông Dương Văn L thì trình bày tại biên bản ghi nhận ý kiến, ông là chồng của bà Hồng C, kết hôn năm 1996 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ, ông không đồng ý ly hôn với bà C do con cái còn nhỏ, đợi con cái lớn và lập gia đình đầy đủ. Ông thống nhất với lời trình bày của bà C có 02 con chung gồm Dương Thị Như H, sinh năm 1997, Dương Thị Thúy H1, sinh năm 2002. Về nợ chung ông thống nhất không có, nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung có 02 Thửa đất 1076 và Thửa 1430 nguồn gốc do ông, bà để lại nên việc bà C yêu cầu chia đôi Thửa đất 1430 mỗi người một nữa ông không đồng ý.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến:
Chị Dương Thị Như H, chị Dương Thị Thúy H1 cùng trình bày, việc cha mẹ ly hôn, các chị không có ý kiến do cha mẹ tự quyết định, hiện tại các chị đang sống cùng mẹ là bà C. Đối với tài sản là Thửa đất 1430 diện tích đất ruộng khoảng 4.519m2 và căn nhà cấp 4 tại Thửa đất số 1076 có diện tích 78m² cùng tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ hiện đứng tên hộ ông Dương Văn L là tài sản chung của cha mẹ, do cha mẹ tự quyết định, các chị không có ý kiến và không có yêu cầu đối với tài sản chung của cha mẹ, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt các chị.
Diễn biến tại phiên toà hôm nay,
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông L, bà yêu cầu được ly hôn, tài sản chung bà T đất 1430 bà yêu cầu được chia đôi, Thửa đất 1076 có căn nhà trên đất bà yêu cầu được nhận phần hiện vật là căn nhà để cho các con có chỗ ở sau này.
Bị đơn ông Dương Văn L vắng mặt tại phiên toà nên không ghi nhận được ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị Như H, chị Dương Thị Thúy H1 vắng mặt tại phiên toà nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai phát biểu quan điểm: Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về thời hạn chuẩn bị xét xử: quá thời hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát nhận định về hôn nhân: Xét thấy hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên thì mới có được hạnh phúc. Nay cuộc sống hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã có nhiều mâu thuẫn, không còn tình cảm, nguyên đơn nộp đơn xin ly hôn nên có căn cứ thống nhất nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng C ly hôn với ông Dương Văn L. Về con chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Về tài sản chung quá trình chung sống bà C và ông L có 02 tài sản chung là:
- + Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đồ số 08, loại đất LNK do hộ ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4.
- + Thửa đất 1430, diện tích 4519m², tờ bản đồ số 08, loại đất trồng lúa, do hộ ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Tuy 02 Thửa đất nêu trên đều do ông L đứng tên nhưng 02 tài sản nêu trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên khi ly hôn mỗi người sẽ được một nữa tài sản. Đối với Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đồ số 08, loại đất LNK do hộ ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4. Nguyên đơn cùng con gái đang sinh sống ổn định trong nhà nêu trên, nên chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn được tiếp tục sử dụng căn nhà và đất nêu trên. Tuy nhiên, nguyên đơn phải trả giá trị ½ căn nhà theo chứng thư thẩm định giá 152.724.000đồng và 1/2 giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư thẩm định giá 312.000.000đồng cho nguyên đơn (152.724.000đồng + 312.000.000 đồng)/2= 232.362.000đồng. Đối với Thửa đất 1430, diện tích 4519m², tờ bản đồ số 08, loại đất trồng lúa, do hộ ông Dương Văn L đứng tên. Sau khi ly hôn mỗi người được ½ diện tích. Nguyên đơn được quyền sử dụng 2.259.5m². Bị đơn được quyền sử dụng 2.259.5m² . Căn cứ Điều 33, 51, 56, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là ông Dương Văn L;
- Về con chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung:
- + Nguyên đơn được quyền sử dụng căn nhà và Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đố số 08, loại đất LNK đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ và ½ diện tích Thửa đất 1430, diện tích 4519m², tờ bản đồ số 08, loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- + Buộc nguyên đơn có trách nhiệm hoàn trả bị đơn ½ giá trị căn nhà và Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đố số 08, loại đất LNK đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ với số tiền 232.362.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng C yêu cầu được ly hôn với ông Dương Văn L. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Hồng C và ông Dương Văn L tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy dịnh nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp nhau, vợ chồng có sự bất đồng quan điểm sống, mặc dù hai bên cũng có tạo điều kiện hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và hiện tại bà C và ông L tuy sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa bà ông đã thực sự rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, bà C có đơn ly hôn, ông L không đồng ý ly hôn nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án Toà án có tổ chức hoà giải để ghi nhận ý kiến động viên các bên đoàn tụ nhưng ông L đều vắng mặt chứng tỏ ông cũng không thiết tha được hàn tình cảm với bà C nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận cho bà C được ly hôn với ông Dương Văn L. Về con chung, Dương Thị Như H (nữ), sinh năm 1997 và Dương Thị Thúy H1 (nữ), sinh năm 2002 các con của ông bà đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà bà C đối với tài sản chung của vợ chồng, bà C yêu cầu chia ½ Thửa đất 1430, diện tích 4519m², tờ bản đồ số 08, loại đất trồng lúa, do ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Hội đồng xét xử xét thấy, T đất 1430 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông L bà C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đứng tên ông Dương Văn L tuy nhiên các con chung ông L trình bày đây là tài sản chung của cha mẹ, chị Như H, Thúy H1 không có yêu cầu chia tài sản đứng tên hộ nói trên. Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì “quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng...Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Đối chiếu lời khai của các đương sự và các tình tiết của vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa là phù hợp với các quy định của pháp luật và đủ cơ sở xác định quyền sử dụng đất của Thửa đất 1430, diện tích 4519m², tờ bản đồ số 08, loại đất trồng lúa, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ do ông Dương Văn L đứng tên là tài sản chung của vợ chồng nên yêu cầu được chia ½ tài sản chung bằng hiện vật của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C là phù hợp, nên có cơ sở chấp nhận, tuy nhiên do ông L không hợp tác có hành vi ngăn cản không cho Đ đo đạc do Toà án thành lập để tiến hành đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ Thửa đất 1430 nên Toà án không thể ghi nhận được hiện trạng thực tế của Thửa đất 1430, nên phần diện tích ½ Thửa 1430 nguyên đơn được cụ thể sẽ do Cơ quan thi hành án dân sự huyện T thành lập Đoàn đo đạc kết hợp với các cơ quan chuyên môn đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ lập Bản trích đo địa chính thể hiện diện tích, vị trí đất nguyên đơn được chia sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật và khi có đơn yêu cầu.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ổn định và sử dụng căn nhà là tài sản gắn liền trên Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đố số 08, loại đất LNK do hộ ông Dương Văn L đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, thấy như đã phân tích và nhận định tại Mục [3.1] Thửa đất 1076 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn, hiện nguyên đơn và các con đang sinh sống trong căn nhà, để đảm bảo không bị xáo trộn cuộc sống của nguyên đơn và các con, thấy cần ổn định cho nguyên đơn được sử dụng Thửa đất 1076 và căn nhà cấp 4. Tuy nhiên, nguyên đơn phải trả giá trị ½ căn nhà theo chứng thư thẩm định số 019/2024/1405677/CTO với giá 152.724.000đồng và 1/2 giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư thẩm định số CT321/24/TĐ có giá 312.000.000đồng cho nguyên đơn (152.724.000đồng + 312.000.000 đồng)/2= 232.362.000đồng.
[4] Xét lời trình bày của ông Dương Văn L cho rằng phần đất tại Thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 08 và Thửa đất số 1430, tờ bản đồ số 08 nêu trên là tài sản của cha mẹ cho riêng ông nên không đồng ý chia ½ phần Thửa đất 1076 đứng tên hộ Dương Văn L và Thửa đất 1430 do ông đứng tên ông Dương Văn L cho bà C, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là tài sản chung của vợ chồng do ông L không có chứng cứ chứng minh tài sản đang có tranh chấp là tài sản riêng. Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự: “đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”, do đó nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự; Tòa án cũng đã giải thích về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án nhưng ông L không cung cấp được chứng cứ chứng minh Thửa đất 1430, Thửa đất 1076 là tài sản riêng của ông nên Hội đồng xét xử không thể xem xét đây là tài sản riêng của ông.
Trong quá trình Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ các Thửa đất tranh chấp để thu thập chứng cứ theo đúng quy định thủ tục tố tụng, bị đơn ông L có hành vi ngăn cản chửi bới, xúc phạm đến cán bộ Đoàn đo đạc và Toà án đang làm nhiệm vụ nên kiến nghị chính quyền địa phương và công an tại xã T, huyện T theo dõi, giám sát nếu ông L còn có hành vi tương tự và gây mất an ninh trật tự tại địa phương đề nghị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
[5] Về nợ chung nguyên đơn và bị đơn thống nhất khai không có nợ chung nên không đặt ra xem xét, trường hợp có tranh chấp về nợ chung sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác khi có đương sự yêu cầu.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C đối với bị đơn ông Dương Văn L, nhận định này cũng phù hợp với nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên toà.
[6] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C tự nguyện nộp nên không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí chia tài sản: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37, Điều 33, Điều 55, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C đối với bị đơn ông Dương Văn L.
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với bị đơn ông Dương Văn L.
Về con chung: đã trưởng thành không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C được quyền sở hữu và sử dụng ½ diện tích đất, bị đơn ông Dương Văn L được quyền sở hữu và sử dụng ½ diện tích đất của Thửa đất 1430, tờ bản đồ số 08 loại đất trồng lúa, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB763625 số vào sổ cấp giấy CH00179 do ông Dương Văn L đứng tên.
Phần diện tích nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C, bị đơn ông Dương Văn L được chia sẽ do Cơ quan thi hành án dân sự huyện T thành lập Đoàn đo đạc kết hợp với các cơ quan chuyên môn đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ lập Bản trích đo địa chính thể hiện diện tích, vị trí đất nguyên đơn được chia sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật và khi có đơn yêu cầu.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C được quyền sở hữu và sử dụng Thửa đất 1076, diện tích 78m², tờ bản đố số 08, loại đất LNK cùng tài sản gắn liền trên đất là căn nhà cấp 4, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 395473 số vào sổ cấp giấy 00466 đứng tên hộ Dương Văn L.
Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C phải trả giá trị ½ căn nhà theo chứng thư thẩm định số 019/2024/1405677/CTO với giá 152.724.000đồng và 1/2 giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư thẩm định số CT321/24/TĐ có giá 312.000.000đồng cho bị đơn ông Dương Văn L số tiền là 232.362.000đồng.
Đương sự được quyền liên hệ Cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo quy định pháp luật.
Về nợ chung, không xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện thành vụ kiện khác khi phát sinh tranh chấp và đương sự có yêu cầu giải quyết.
Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C tự nguyện chịu số tiền 5.000.000đồng và đã chi xong.
Về án phí: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng C phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm và 11.918.100đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 12.218.100 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.782.000đồng theo biên lai thu số 0005351 ngày 18 tháng 3 năm 2022 thành án phí. Bà C còn phải nộp thêm số tiền 5.436.000đồng án phí tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn ông Dương Văn L phải nộp 11.918.100đồng án phí Dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Dương Văn L được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nơi bị đơn cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
* Nơi nhận:
|
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Huỳnh Thúy Liễu | Lê Thanh Khiêm |
| Trần Thị Minh Hiền |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, tài sản chung
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
