|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 131/2024/DS-ST
Ngày 16-09-2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất, hợp đồng tặng
cho QSD đất, yêu cầu tháo dỡ nhà
trả đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Giúp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Chí
- Bà Hà Thị Mai Loan
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2022/TLST- DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng tặng cho QSD đất, yêu cầu tháo dỡ nhà trả đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1977; Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền: Võ Minh H1, sinh năm: 1986; Địa chỉ ấp Trung xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024.
Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1987; Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Võ Văn N sinh năm: 1948
Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Văn bản ủy quyền ngày ngày 26/7/2024.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Thanh B – Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Võ Minh T, sinh năm 1975, ông T là chồng bà H.
- Bà Đặng Thị Ú, sinh năm 1948, mẹ bà H.
- Võ Thị Kim Q, sinh năm 1996 con bà H
- Võ Thị Huỳnh D sinh năm: 2000 con bà H
- Võ Minh N1, sinh năm 2004, là con bà H.
- Anh Nguyễn D1, sinh năm 1993 là rể bà H,
- Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1986, em ruột của bà H,
- Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1980 là chồng bà P.
- Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 2006, con bà P
- Chị Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 2011, con bà P.
- Bà Bùi Thị P1 sinh năm: 1959
- Huỳnh Tấn L sinh năm: 1989
- Huỳnh Thị Lệ M sinh năm: 1980, địa chỉ: 7, đường T, Phường A, Quận H, tp Hồ Chí Minh.
- Huỳnh Thị Ngọc L1 sinh năm: 1983; địa chỉ tổ C, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
- Huỳnh Thị Lệ H2 sinh năm: 1986; địa chỉ tổ C ấp P xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Huỳnh Văn H3, sinh năm 1937, đại diện theo ủy quyền bà Huỳnh Thị Kim N2 sinh năm 1989 địa chỉ ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An, Văn bản ủy quyền ngày 28/8/2024.
- Bà Huỳnh Thị Ả sinh năm: 1964
- Bà Huỳnh Thị T3 sinh năm: 1944
- Bà Huỳnh Thị M1 sinh năm: 1957
- Bà Huỳnh Thị B1 sinh năm sinh năm: 1960
- Bà Huỳnh Thị M2 sinh năm: 1981
- Ông Nguyễn Văn T4 sinh năm: 1974 chồng bà M2.
- Phòng C1 tỉnh Long An nay là Văn phòng C2; Địa chỉ: Số B, đường N,khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của cháu V và cháu T2 bà Huỳnh Thị Kim P. Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Tất cả cùng ủy quyền bà Võ Thị Kim Q Văn bản ủy quyền 1/7/2024.
Cùng trú quán: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông L, bà Lệ M, Bà Ngọc L1, bà Lệ H2 là con ông T6, bà P1 vợ ông T6 có yêu cầu xử vắng mặt).
Địa chỉ: số A, ấp Đ, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông H3, bà Ả, bà T3, bà M1, bà B1 là con ông N và bà V1 có yêu cầu xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật bà Huỳnh Lệ T5 – Trưởng Văn phòng, bà T5 có đơn xin vắng mặt.
Nguyên đơn, đại diện nguyên đơn, bị đơn, đại diện bị đơn, đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của bà H, cùng lời khai và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền nội dung vụ án như sau:
Năm 2011 bà H nhận chuyển nhượng thửa 1074 tờ bản đồ số 5 loại đất ONT diện tích 438m² và thửa một phần 1068 tờ bản đồ số 5 loại đất CLN diện tích 331m² của ông Huỳnh Văn N3 (ông N3 là ông nội bà H chết năm 2014) các thửa đất tọa lạc tại ấp T xã Đ, giá chuyển nhượng hai thửa đất là 40.000.000 đồng, không phân biệt mỗi thửa là bao nhiêu tiền và cũng không tính trên m², diện tích căn cứ vào Giấy chứng nhận QSD đất, không có đo đạt thực tế. Bà H giao tiền trực tiếp cho ông N3 và nhận đất sử dụng. Thửa đất 1074 đủ điều kiện chuyển nhượng nên ngày 5/10/2011 ông N3 và bà Vạn L2 hợp đồng tặng cho và bà H đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, còn lại thửa đất 1068 không đủ diện tích tách thửa nên hai bên mới lập giấy tay, ông N3 đã giao toàn bộ 2 thửa đất cho bà H sử dụng, bà H cất nhà kiên cố trên thửa đất 1074 từ năm 2011. Thửa đất 1068 bà H san lấp đất một phần. Căn cứ vào mãnh trích đo bản đồ địa chính 08/2023, thì tại khu B bà H có xây chòi lá tạm, 1 nhà vệ sinh tạm; khu C có một phần căn nhà của bà P cấn diện tích 5m² (bà H cho bà P cất nhà ở) khu D có một phần nhà tạm, các khu B, C, D thuộc thửa 1068. Nhà tạm và chòi lá nhà vệ sinh tạm hiện đã sập.
Ngày 22/5/2013 ông N3 cùng bà V1 lập hợp đồng tặng cho ông Huỳnh Tấn T6 là con của ông N3 phần còn lại của thửa đất 1068 ( diện tích sau khi đã chuyển nhượng cho ông H3, ông K1) trong đó có phần đất đã bán cho bà H theo giấy tay 25/11/2011. Sau đó ông T6 chuyển nhượng cho bà M2 một phần thửa 1068 diện tích 573m², phần còn lại thì ngày 06/01/2015 ông Huỳnh Tấn T6 và vợ bà Bùi Thị P1 lập hợp đồng tặng cho cho ông Huỳnh Tấn Đ.
Vì vậy, bà H yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn N3, bà Phạm Thị V1 với ông Huỳnh Tấn T6 do Văn phòng C3 tỉnh Long An nay là Văn phòng C2, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/5/ 2013 và một phần Hợp đồng tặng cho giữa ông Huỳnh Tấn T6, bà Bùi Thị P1 với ông Huỳnh Tấn Đ do Văn phịng C2 công chứng số 00035 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/01/2015 đối với diện tích 331m² đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa đất 1068.
Theo đơn khởi kiện bà đòi ông Đ trả lại 370m² đất thuộc thửa 1068. Nay bà H thay đổi yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với ông Huỳnh Văn N3 đối với diện tích 331m² thuộc một phần thửa 1068 và cho bà H được đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất.
Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H và ông N3 bị vô hiệu thì bà H có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng, bà H xác định giá trị thửa đất 1068 bà nhận chuyển nhượng của ông N3 là 20.000.000 đồng, bà đồng ý tháo dỡ nhà tạm số 1 và nhà tạm số 4, nhà vệ sinh tạm số 1 trả lại 331m² cho ông những người thừa kế của ông N3, nếu những người này đồng ý giao cho ông Đ thì bà đồng ý giao đất cho ông Đ và ông Đ có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất cho bà H, tiền chuyển nhượng ban đầu là 20.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại thì phía ông N3 và bà H mỗi người chịu 50%; tiền san lấp cát 7.200.000 đồng; tiền cây trồng trên đất 20.785.000 đồng.
Vị trí đất không thay đổi nên bà H không yêu cầu đo đất lại và thống nhất sử dụng Chứng thư thẩm định giá năm 2023 của Công ty T8 làm cơ sở tính giá trị. Không đồng ý yêu cầu phản tố của ông Đ đòi đất do lấn chiếm
Bị đơn ông Huỳnh Tấn Đ trình bày: thửa đất 1068 ông Đ được cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo hợp đồng tặng cho do ông Huỳnh Tấn T6 và bà Bùi Thị P1 ngày 06/01/2015 do Văn phịng C2 công chứng số 00035 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD. Khi tặng cho đất thì ông T6 giao toàn bộ thửa đất 1068 cho ông Đ sử dụng, cấy lúa không được mới đào hào nuôi tôm toàn bộ thửa đất 1068. Năm 2020 bà H mới kéo rào lấn chiếm một phần đất mà ông T6 đào nuôi tôm chứ ông N3 không có bán đất. Giấy sang nhượng đất vào năm 2011 bà H cung cấp cho Tòa án là giả, không phải chử ký của ông N3 và cũng không có chử ký bà V1 là vợ ông N3, không yêu cầu yêu cầu giám định chử ký. Vì xác định giấy chuyển nhượng không phải là chử ký của ông N3 nên ông Đ rút lại yêu vô hiệu hợp đồng giấy tay chuyển nhượng giữa bà H và ông N3 lập ngày 25/11/2011, yêu cầu bà H tháo dỡ nhà, trả lại đất tại vị trí khu A diện tích 5m², khu B diện tích 225m², khu C diện tích 35m², khu D diện tích 66m² thuộc thửa 1068.
Nếu Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà H và ông N3 bị vô hiệu thì ông Đ yêu cầu được nhận đất và chịu trách nhiệm hoàn trả tiền cho bà H. Ông Đ xác định giá trị chuyển nhượng thửa đất 1068 theo bà H trình bày là 20.000.000 đồng là không phù hợp, chỉ đồng ý là 10.000.000 đồng, không đồng ý bồi thường thiệt hại. Đồng ý hoàn trả tiền cát cát san lấp 7.200.000 đồng. Không đồng ý hoàn trả giá trị cây trồng, bà H muốn chặt bỏ hay đào bứng đi thì tùy. Các vị trị đất không thay đổi nên không yêu cầu đo lại và đồng ý sử dụng Chứng thư thẩm định giá năm 2023 của Công ty T8 làm căn cứ giải quyết vụ án.
Đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Kim N2 trình bày: ông H3 là con của ông N3 và là cha của bà H cùng sống chung nhà với bà H, những chòi lá tạm cất trên phần đất thuộc thửa 1068 do ông Hai cất để trữ vật dụng, ông H3 đồng ý tháo dỡ trả đất.
Bà Q đại diện cho bà P và ông K trình bày: bà P được bà H cho mượn đất cất nhà ở, theo mãnh trích đo bản đồ đồ địa chính thì căn nhà bán kiên cố của bà cất bị lấn qua 1 phần thửa 1068 là 5m² thì bà P và ông K không đồng ý tháo dỡ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ả, bà T3, bà M1, bà B1 cùng trình bày: các bà là con của ông N3 và bà P1, lúc cha mẹ các bà còn sống có nghe nói là có bán đất cho bà H, khi về thăm cha mẹ thấy bà H đã sử dụng đất. Đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa ông N3 và bà H các bà không có yêu cầu gì đồng ý để cho ông Đ sử dụng đất và có nghĩa vụ đối với bà H.
Những người thừa kế theo pháp luật của ông T6 gồm bà P1, bà L1, bà M, ông L, bà H2 cùng trình bày thống nhất ý kiến ông Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đúng quy định; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến đề xuất giải quyết vụ án:
Đề nghị đình chỉ rút yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông N3 với bà H.
Theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 08-2023 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 17/01/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 18/01/2023 thì các bên đang tranh chấp phần đất có diện tích 331m² tương ứng vị trí A, B, C, D, thuộc một phần thửa đất 1068 hiện do ông Đ đang đứng tên trên GCNQSDĐ: vị trí A diện tích 05m² hiện trạng là đất gò; vị trí B diện tích 225m² hiện trạng là đất gò trong đó diện tích nhà là 12m², nhà vệ sinh 1 là 1m² (nhà 1 và nhà vệ sinh 1 do ông H3 và bà H quản lý), ao là 113m²; vị trí C diện tích 35m² hiện trạng là đất gò trong đó diện tích nhà 2 là 05m² (nhà 2 là tài sản của bà P, ông K); vị trí D diện tích 66m² trong đó diện tích nhà 4 là 05m² (nhà 4 do ông H3, bà H quản lý).
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn cung cấp Giấy sang nhượng đất có ông N3 và bà H ký tên, ông Huỳnh Tấn T6 có ký tên, 02 người làm chứng gồm ông Nguyễn Văn C (chết năm 2020) và ông Võ Ly P2. Ông P2 trình bày có chứng kiến bà H trả tiền cho ông N3; ông Võ Văn T7 xác định đã đưa giấy sang nhượng đất đánh máy cho bà H; ông Nguyễn Minh H4 biết ông N3 có chuyển nhượng đất thổ và đất lá 02 bên thửa đất thổ cho bà H. Đồng thời, ông N3 đã giao đất cho bà H quản lý sử dụng, bà H cất nhà tạm, tiến hành san lấp vào năm 2017 và năm 2020, thời điểm này ông N3 còn sống không có ý kiến phản đối.
Do đó đủ căn cứ xác định ông Huỳnh Văn N3 có chuyển nhượng 331m² đất cây lâu năm thuộc thửa đất 1068 cho bà H vào năm 2011 theo Giấy sang nhượng đất ngày 25/11/2011.
Xét Giấy sang nhượng đất vào ngày 25/11/2011:
Về hình thức: HĐCNQSDĐ giữa bà H với ông N3 theo Giấy sang nhượng đất ngày 25/11/2011, được lập bằng văn bản, không có công chứng, chứng thực là chưa đảm bảo về hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật".
Về mặt nội dung: tại thời điểm ký giấy sang nhượng, diện tích nêu trên không đủ diện tích để tách thửa nhưng hai bên vẫn trả tiền, nhận đất là vi phạm quy định tại Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 và vi phạm quy định tại Điều 7 Quyết định số 11/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 3 năm 2009 cua UBND tỉnh L về việc ban hành quy định về diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Long An. Ngoài ra, thửa đất số 1068 là tài sản chung hợp nhất của 02 vợ chồng ông N3, bà V1, thời điểm ký giấy sang nhượng bà V1 còn sống cho nên việc ông N3 ký giấy sang nhượng quyền sử dụng đất cho bà H mà không có ý kiến của bà V1 là không đúng với quy định pháp luật.
Từ những căn cứ trên có căn cứ vô hiệu HĐCNQSDĐ giữa ông Huỳnh Văn N3 và bà Huỳnh Thị Kim H và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Về tiền chuyển nhượng đề nghị xác định giá chuyển nhượng thửa 1074 là 57% còn thửa 1068 là 43% trên số tiền 40.000.000 đồng = 17.200.000 đồng. Tiền san lấp 7.200.000 đồng, cây trồng 20.785.000 đồng.
Xét về lỗi ông N3 và bà H có lỗi như nhau nên thiệt hai chia đều hai bên mỗi bên chịu 82.425.000đồng. Tổng số tiền ông Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà H 127.610.000 đồng.
Đối với vị trí khu J thuộc một phần thửa 3516 do bà M2 đứng tên giấy CNQSDĐ bà M2 và ông T4 không tranh chấp đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1.] Về thẩm quyền:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H khởi kiện ông Huỳnh Tấn Đ yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông N3 với bà H với và yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích 331m² loại đất trồng cây lâu năm giữa ông N3, bà V1 với ông T6, giữa ông T6, bà P1 với ông Đ. Bị đơn ông Huỳnh Tấn Đ có yêu cầu phản tố yêu cầu tháo dở nhà, tài sản trên đất để trả 331m². Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a, c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
[2.]Về thủ tục tố tụng:
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người thừa kế theo pháp luật của ông Huỳnh Văn N3 và những người thừa kế theo pháp luật của ông Huỳnh Tấn T6, bà M2, ông T4, Văn phòng C2 có yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu trên.
[2] Tại phiên tòa, ông Huỳnh Tấn Đ rút yêu cầu phản tố đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà H và ông N3 lập ngày 25/11/2011 nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên.
[3] Nội dung tranh chấp: bà H trình bày năm 2011 bà nhận chuyển nhượng thửa đất 1074 và 1 phần thửa đất 1068 của ông nội bà là ông Huỳnh Văn N3, thửa 1074 ở giữa hai bên là thửa 1068 liền cùng một khu đất, sau khi chuyển nhượng thì thửa đất 1074 đủ điều kiện nên ông N3 cùng vợ lập hợp đồng tặng cho bà đã được cấp giấy chứng nhận, còn lại một phần thửa đất 1068 thì chưa được cấp giấy chứng nhận,vì không đủ diện tích tách thửa, nên hai bên lập giấy tay gồm 2 thửa với giá tiền là 40.000.000 đồng, không phân biệt mỗi thửa là bao nhiêu và bà H nhận đất sử dụng từ đó cho đến nay, phía bị đơn thì cho rằng ông N3 không có chuyển nhượng đất cho bà H mà do bà H sử dụng thửa đất 1074 lấn ranh
Xét thấy, giấy tay sang nhượng đất ngày 25/11/2011 giữa bà H và ông N3 do bà H cung cấp, hai phần đất ông N3 chuyển nhượng không thể hiện số thửa, không có vợ ông N3 là bà V1 cùng ký tên. Tuy nhiên trên thực tế, ông N3 đã giao đất cho bà H đã quản lý sử dụng cất nhà ở, san lấp đất trồng cây ăn trái, cho em ruột là bà P cất nhà trên thửa đất 1074 và 1068 từ năm 2011, thời điểm ông N3 và bà V1 còn sống cũng không có ý kiến về việc sử dụng đất của bà H. Giấy tay sang nhượng đất có chử ký người làm chứng thứ 2 ông Võ Ly P2.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến các đương sự của Tòa án ngày 27/11/2023, ông Võ Ly P2 trình bày: ông có chứng kiến ông Huỳnh Văn N3 ký tên vào giấy sang nhượng đất bản gốc và bà H giao số tiền 40.000.000đồng cho ông N3 vào ngày 25/11/2011. Đồng thời bà Huỳnh Thị T3, bà Huỳnh Thị B1, bà Huỳnh Thị M1 có trình bày tại biên bản làm việc của Tòa án thì các bà là con của ông Huỳnh Văn N3 bà V1, các bà có nghe nói là ông N3 có bán đất cho bà H, khi các bà về thăm cha mẹ thì thấy bà H đã sử dụng đất. Như vậy có căn cứ xác định ông N3 có chuyển nhượng cho bà H một phần thửa 1068 diện tích đo đạc theo mãnh trích đo BĐĐC là 311m² tương ứng vị trí khu A, khu B, khu C, khu D. Ông Đ cho rằng ông quản lý phần đất tranh chấp vào năm 2011 do ông T6 giao, năm 2020 bà H kéo rào lấn đất nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên diện tích đất ông N3 chuyển nhượng cho bà H tại thời điểm yêu cầu công nhận là vi phạm điều kiện tách thửa đất theo Điều 6, Điều 8 của Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của UBND tỉnh L về việc ban hành quy định về điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở và đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Long An. Do đó cần phải vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất theo giấy sang nhượng đất lập ngày 25/11/2011 giữa bà H và ông Huỳnh Văn N3.
Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bà H phải trả lại cho những người thừa kế theo pháp luật của ông N3 diện tích đất 311m². Tuy nhiên ông Đ và những người thừa kế theo pháp luật của ông N3 như bà B1, bà Ả, bà M1, bà T3 và những người thừa kế theo pháp luật của ông T6 thống nhất giao diện tích đất cho ông Đ và ông Đ có nghĩa vụ đối với bà H. Vì vậy không cần thiết phải vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn N3, bà Phạm Thị V1 với ông Huỳnh Tấn T6 do Văn phòng C3 tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2) công chứng số 003620, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/5/ 2013 và một phần Hợp đồng tặng cho giữa ông Huỳnh Tấn T6, bà Bùi Thị P1 với ông Huỳnh Tấn Đ do Văn phịng C2 công chứng số 00035 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/01/2015.
Giao diện tích đất 331m² và cây trồng trên đất thuộc một phần thửa đất 1068 gồm khu A, B, C, D theo mãnh trích đo bản đồ địa chính số 08-2023 cho ông Đ sử dụng, buộc bà H và ông H3 phải tháo dở nhà tạm 1 và nhà vệ sinh 1 thuộc khu B và một phần nhà tạm số 4 diện tích 5m² thuộc khu D; bà P, ông K và anh V, chị T1 tháo dở một phần nhà tiền chế (nhà 2) diện tích 5m² thuộc khu C để giao đất cho ông Đ. Kết cấu nhà tiền chế, tài sản trong diện tích 331m² đất thuộc thửa 1068 được xác định theo chứng thư thẩm định giá số 56 ngày 28/02/2023 của Công ty cổ phần T8.
Tại phiên tòa ông Đ và bà H không thống nhất số tiền chuyển nhượng phần đất tranh chấp. Bà H trình bày mỗi thửa có giá là 20.000.000 đồng, nhưng giấy sang nhượng thì ghi hai phần đất có giá là 40.000.000 đồng, không phân biệt mỗi thửa là bao nhiêu, bà H không chứng minh được thửa đất 1068 có giá là 20.000.000 đồng, phía ông Đ chỉ chấp nhận 10.000.000 đồng vì thửa đất 1074 là loại đất ONT còn thửa 1068 là loại đất lúa diện tích lại ít hơn nên giá trị không ngang nhau. Xét thấy lời trình bày của ông Đ là phù hợp nên chấp nhận giá trị chuyển nhượng thửa 1068 số tiền là 10.000.000 đồng. Trên diện tích đất 331m² giao cho ông Đ có một số cây ăn trái do bà H trồng có giá trị theo chứng thư thẩm định giá 20.785.000 đồng, ông Đ được sở hữu có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho bà H.
Xét về lỗi bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu: bà H và ông N3 cùng có lỗi dẫn đến vô hiệu hợp đồng nên bà H và ông Đ mỗi người chịu ½ thiệt hại.
Phần thiệt hai là phần chêch lệch giá trị đất đất được xác định thời điểm chuyển nhượng và giá trị tại thời điểm định giá cụ thể: giá đất theo chứng thư định giá của công ty T8 tháng 02/2023 tại thời điểm định giá là 550.000 đồng/m2 x 331m² = 182.050.000 đồng – 10.000.000 đồng giá trị chuyển nhượng = 172.050.000 đồng mỗi người chịu ½ là 86.025.000 đồng.
Như vậy ông Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà H 10.000.000 đồng tiền chuyển nhượng + tiền san lấp đất là 7.200.000 đồng + tiền cây trồng là 20.785.000 đồng, bồi thường thiệt hại 86.025.000 đồng tổng cộng 124.010.000 đồng.
[4.] Về chi phí tố tụng: bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chổ, chi phí đo đạc định giá tài sản để làm căn cứ giải quyết thiệt hại, do xác định hai bên cùng có lỗi mỗi người chịu ½ bà H tạm nộp 29.700.000 đồng, ông Đ phải hoàn lại cho bà H 14.850.000 đồng
[5.] Về án phí: Bà H phải chịu 600.000 đồng án phí đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng không được chấp nhận và 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu công nhận hợp đồng không được Tòa án chấp nhận, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.
Ông Đ phải chịu 300.000 án phí đối với yêu cầu đòi đất không được chấp nhận, và 6.200.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ hoàn trả. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí số tiền 600.000 đồng ông Đ nộp tạm ứng còn phải nộp tiếp 5.900.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a, c Khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 116, 119, 123, 131 Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 166, 168 của Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Khoản 3 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Quyết định số 42/2021 ngày 18/10/2021 của UBND tỉnh L quy định về điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở và đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Long An
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim H vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn N3, bà Phạm Thị V1 với ông Huỳnh Tấn T6 do Văn phòng C3 tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2) công chứng số 003620, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/5/ 2013 và một phần Hợp đồng tặng cho giữa ông Huỳnh Tấn T6, bà Bùi Thị P1 với ông Huỳnh Tấn Đ do Văn phịng C2 công chứng số 00035 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/01/2015.
- Vô hiệu hợp đồng nhượng QSD đất theo giấy tay sang nhượng đất lập ngày 25/11/2011 giữa ông Huỳnh Văn N3 với bà Huỳnh Thị Kim H.
Giao diện tích đất 331m² và cây trồng trên đất thuộc một phần thửa đất 1068 gồm khu A, B, C, D theo mãnh trích đo bản đồ địa chính số 08-2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 18/01/2023 cho ông Đ sử dụng. Buộc bà H và ông H3 phải tháo dỡ nhà tạm 1 và nhà vệ sinh 1 thuộc khu B và một phần nhà tạm số 4 diện tích 5m² thuộc khu D; bà P, ông K và anh V, chị T1 tháo dỡ một phần nhà tiền chế (nhà 2) diện tích 5m² thuộc khu C để giao đất cho ông Đ. Kết cấu nhà tiền chế, tài sản trong diện tích 331m² đất thuộc thửa 1068 được xác định theo chứng thư thẩm định giá số 56 ngày 28/02/2023 của Công ty cổ phần T8.
Buộc ông Đ phải hoàn trả cho bà H giá trị chuyển nhượng đất, tiền bồi thường thiệt hại, tiền san lấp đất, cây trồng trên đất số tiền 124.010.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về chi phí tố tụng: ông Đ hoàn trả lại cho bà H 14.850.000 đồng.
Về án phí: : Bà H phải chịu 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng đã nộp tại Biên lai số 0011907 ngày 03/4/2023, biên lai số 0012232 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc còn phải nộp tiếp 300.000 đồng. Ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí DSST không có giá ngạch và 6.200.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ hoàn trả. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng ông Đ nộp tại biên lai số 0012810, 0012809 cùng ngày 23/12/2021 Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc còn phải nộp tiếp 5.900.500 đồng.
[8.] Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Giúp |
Bản án số 131/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng qsd đất, hợp đồng tặng cho qsd đất, yêu cầu tháo dỡ nhà trả đất
- Số bản án: 131/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, hợp đồng tặng cho QSD đất, yêu cầu tháo dỡ nhà trả đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chap dat dai
