|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST Ngày 31-5-2024 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Ông Nguyễn Nam Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: S-dong, S, Jugong-apart 305-ho, 104-dong, 10, Daecho-gil, N-si, J-do. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc V; nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: P. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày:
Chị và anh Hoàng Ngọc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 10 tháng 8 năm 2021. Sau khi kết hôn, chị và anh V đều đi lao động tại nước ngoài, chị T đi lao động tại Hàn Quốc, anh V lao động tại Philippines. Từ đó đến nay, anh V chưa trở lại Việt Nam. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không có khả năng đoàn tụ nên chị xin được ly hôn với anh V.
Về con chung: Giữa chị và anh V không có con chung nên chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Hoàng Ngọc V không có ý kiến trình bày.
Theo Biên bản xác minh ngày 03 tháng 4 năm 2024 tại thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng nơi đăng ký thường trú của anh V:
Chị T và anh V có kết hôn với nhau vào năm 2021. Sau khi kết hôn, chị T và anh V không chung sống cùng nhau. Chị T và anh V có mâu thuẫn gì không thì địa phương không nắm được; nhưng không đánh cãi, chửi nhau gây ảnh hưởng đến hàng xóm, láng giềng. Hiện nay, chị T và anh V đều đang sinh sống và lao động ở nước ngoài nhưng anh chị đi đâu, cụ thể vào thời gian nào thì địa phương không nắm được do anh chị không thông qua địa phương. Nay chị T có đơn đề nghị ly hôn, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Hoàng Ngọc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Anh V sang nước ngoài sinh sống và làm việc, từ năm 2023 đến nay chưa trở về Việt Nam; vợ chồng cũng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của chị T xin ly được ly hôn với anh V là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Giữa chị và anh V không có con chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về tranh chấp về ly thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Hoàng Ngọc V đang cư trú tại nước ngoài. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Theo thông tin do Cục Q - Bộ C cung cấp thì anh Hoàng Ngọc V đã xuất cảnh từ tháng 11 năm 2023 và đến thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Nguyên đơn chị Phạm Thị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh V, không cung cấp được địa chỉ của anh Hoàng Ngọc V ở nước ngoài.
[3] Chị Phạm Thị T và anh Hoàng Ngọc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 10 tháng 8 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã hai lần gửi thông báo yêu cầu bố mẹ đẻ của anh V là ông Hoàng Ngọc S và bà Cao Thị L cung cấp thông tin về địa chỉ tại nước ngoài của anh V và thông báo cho anh V biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh V. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với ông S và bà L thì được ông bà cung cấp như sau: Anh Hoàng Ngọc V vẫn liên lạc về với gia đình và đã được gia đình thông báo về việc chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn nhưng anh V không cung cấp thông tin về địa chỉ ở nước ngoài và từ chối cung cấp lời khai cho Toà án. Vì vậy, ông bà không thể cung cấp được thông tin về địa chỉ của anh V tại nước ngoài cho Toà án. Như vậy, cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[5] Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Phạm Thị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Hoàng Ngọc V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Hoàng Ngọc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 8 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cả chị T và anh V sang nước ngoài sinh sống và làm việc; từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Xét, chị T và anh V hiện mỗi người ở một nơi, gia đình không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Phạm Thị T xin được ly hôn với anh Hoàng Ngọc V là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[7] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Hoàng Ngọc V không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 147, 228, 235, 238, 273, 469 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
X:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Hoàng Ngọc V.
- Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Hoàng Ngọc V không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Phạm Thị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0000239 ngày 07 tháng 3 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn
