|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19/4/2024.
“V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cồ Khắc Đam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Tuấn
Ông Vũ Minh Long
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 506/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023, về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Vương Khánh T, sinh năm 1981.
Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội.
* Bị đơn: Chị Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1991.
NĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội.
Nơi ở hiện tại: Phòng 203, số B phố B, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội.
(Anh T và chị Q có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Vương Khánh T trình bày:
Về tình cảm: Tôi và chị Q tìm hiểu nhau khoảng 01 năm rồi kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã S, TP Hà Nội ngày 09/01/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chuyển về sinh sống cùng với gia đình chị Q ở thị xã S. Đến năm 2021 vợ chồng tôi chuyển lên sinh sống tại khu đô thị Đ, xã Đ, G, Hà Nội. Sau khi vợ chồng tôi chuyển lên khu đô thị Đ để sinh sống thì vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Khi vợ chồng tôi mâu thuẫn có bố mẹ tôi cũng biết chuyện vợ chồng tôi mâu thuẫn cũng có khuyên giải nhưng mâu thuẫn không được cải thiện. Vợ chồng tôi cũng không tìm biện pháp nào để cải thiện tình trạng mâu thuẫn nên mâu thuẫn không được cải thiện. Đến tháng 2/2023, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng vợ chồng tôi sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng tôi cũng tìm biện pháp để cải thiện mâu thuẫn nhưng tình trạng mâu thuẫn vẫn trầm trọng. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn chị Nguyễn Hồng Q.
Về con chung: Tôi và chị Q có 01 con chung tên Vương Quang H, sinh ngày 09/8/2014. Hiện nay cháu H đang sống cùng chị Q, trong trường hợp tôi và chị Q ly hôn nếu cháu H muốn ở với tôi hoặc chị Q tôi tôn trọng nguyện vọng của cháu. Nếu cháu H ở với chị Q tôi tự nguyện cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng để chị Q nuôi con.
Về tài sản chung vợ chồng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về Nợ chung: Không có, Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Tôi tự nguyện nộp cả án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn chị Nguyễn Hồng Q trình bày:
Về việc kết hôn và điều kiện đăng ký kết hôn tôi hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của anh T. Vợ chồng tôi bắt đầu xảy ra mâu thuẫn từ tháng 4/2023 nguyên nhân là do anh T đi làm không biết lý do gì về gây gổ với tôi và vợ chồng tôi xảy ra cãi nhau và tôi nghi ngờ anh T có người phụ nữ khác ở bên ngoài. Anh T cũng không thường xuyên quan tâm gì đến gia đình và vợ con. Hai bên gia đình cũng biết chuyện vợ chồng tôi mâu thuẫn, cùng có khuyên giải nhưng tình trạng mâu thuẫn vẫn không được cải thiện. Tôi cũng có tìm biện pháp để cải thiện tình trạng mâu thuẫn nhưng anh T không hợp tác nên tình trạng mâu thuẫn vợ chồng vẫn vậy. Đến tháng 10/2023 thì vợ chồng tôi không thường xuyên sinh sống với nhau, mỗi tháng anh T về nhà 1 – 2 lần thăm con rồi lại đi. Nay được biết anh T làm đơn xin ly hôn tôi tại Tòa án nhân dân huyện, quan điểm tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn tôi không đồng ý ly hôn với anh T.
Về con chung: Tôi và anh T có 01 con chung tên Vương Quang H, sinh ngày 09/8/2014. Hiện nay cháu H đang sống cùng tôi, trong trường hợp tôi và anh T ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu H. Tôi nhất trí với mức cấp dưỡng nuôi con của anh T.
Về điều kiện để nuôi con: Hiện nay tôi đang thuê nhà ở Trung tâm hướng dẫn hoạt động thiếu nhi Trung Ương từ ngày 18/01/2024. Tôi ký hợp đồng thuê nhà 01 năm. Về thu nhập: Hiện nay tôi đang làm nhân viên thị trường của công ty TNHH M với mức lương hàng tháng thu nhập khoảng 9.000.000 đồng/tháng. Tôi thấy mình có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không có, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
Anh Vương Khánh T vẫn giữ nguyên quan điểm được ly hôn đối với chị Nguyễn Hồng Q; Về con chung: Khi ly hôn, anh T đồng ý giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng, kể từ tháng 4/2024 đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung là động sản, bất động sản và các khoản nợ chung: Anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Chị Nguyễn Hồng Q trình bày: Chị Q vẫn xác định tình cảm vẫn còn với anh T và con chị còn nhỏ cần có cả bố mẹ để chăm sóc nên chị không đồng ý ly hôn. Chị Q nghi ngờ anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nhưng không có chứng cứ về việc anh T ngoại tình. Nếu anh T vẫn cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật. Vê con chung: Chị Q xác định có 01 con chung là Vương Quang H, sinh ngày 18/01/2024. Nếu trong trường hợp ly hôn thì chị Q có nguyện vọng được nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì chị Q đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh T là 5.000.000 đồng(Năm triệu đồng)/tháng. Về tài sản chung là động sản, bất động sản và các khoản nợ chung: Chị Q xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát huyện G, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 19, 56, 59, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị hội đồng xét xử:
Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của anh Vương Khánh T vì mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ. Cho anh Vương Khánh T được ly hôn chị Nguyễn Hồng Q.
Về con chung: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận về việc: Giao cho chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Vương Quang H, sinh ngày 09/8/2014. Anh Vương Khánh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) kể từ tháng 4/2024 đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Các đương sự cùng xác nhận không có và không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đề nghị HĐXX áp dụng án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai đương sự thể hiện: Chị Nguyễn Hồng Q có đăng ký HKTT tại Thôn V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội và hiện nay chị Q đang tạm trú tại Phòng 203, số B phố B, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Khánh T và chị Nguyễn Hồng Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/01/2013 tại UBND phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội . Vì vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chuyển về sinh sống cùng với gia đình chị Q ở thị xã S. Đến năm 2021, vợ chồng anh chị chuyển về khu đô thị Đ, xã Đ, G, Hà Nội sinh sống.
Sau khi vợ chồng anh T, chị Q chuyển lên khu đô thị Đ để sinh sống thì vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Chị Q nghi ngờ anh T có người phụ nữ khác ở bên ngoài nhưng không có chứng cứ chứng minh việc anh T vi phạm chế độ một vợ một chồng. Anh T cũng không thường xuyên đi làm xa thỉnh thoảng mới về với vợ con. Khi vợ chồng mâu thuẫn, bố mẹ hai bên gia đình cũng có khuyên giải nhưng mâu thuẫn không được cải thiện. Vợ chồng anh chị cũng không tìm biện pháp nào để cải thiện tình trạng mâu thuẫn nên mâu thuẫn không được cải thiện. Đến tháng 2/2023, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Tháng 8/2023, anh T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm giải quyết ly hôn và sau đó anh T đã rút đơn ly hôn để vợ chồng về hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 345/2023/QĐST-ĐC ngày 07/9/2023. Hiện tại mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai, việc ai người đó làm. Nay Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể về đoàn tụ chung sống với nhau hạnh phúc với chị Q được nữa. Chị Q xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với anh T.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị Q đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin được ly hôn của anh T là chính đáng, phù hợp với quy định của Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
[4]. Về con chung: Anh T và chị Q xác định có 01 con chung là Vương Quang H, sinh ngày 09/8/2014.
Khi ly hôn, anh T và chị Q hai bên thỏa thuận: Giao con chung cho chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Vương Quang H. Anh Vương Khánh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) kể từ tháng 4/2024 đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Nội dung thỏa thuận phù hợp với nguyện vọng của cháu H và phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
[5]. Về tài sản chung là động sản, bất động sản và các khoản nợ chung: Anh T và chị Q cùng xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ: Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ: điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; điểm 1.1 khoản 1Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án bán hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội .
Xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vương Khánh T. Cho anh Vương Khánh T, sinh năm 1981 được ly hôn với chị Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1991.
[2]. Về con chung: Giao con chung là Vương Quang H, sinh ngày 09/8/2014 cho chị Nguyễn Hồng Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vương Khánh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Vương Khánh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung là động sản, bất động sản và các khoản nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Anh Vương Khánh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Xác nhận anh T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003888 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Anh T còn phải nộp 300.000 đồng án phí đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
[6]. Về quyền kháng cáo: Anh Vương Khánh T và chị Nguyễn Hồng Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Q không đồng ý ly hôn với anh T
