Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/8/2024

Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

Bà Hà Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 338/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Thái Thị Mọng P, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (Có đơn xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Chí L, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thái Thị Mọng P trình bày như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2016, chị và anh Nguyễn Chí L tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 20/02/2017. Khi cưới nhau xong, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang được ít ngày, sau đó vợ chồng lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, nhưng mỗi năm vẫn về nhà vài lần.
  • Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến đầu năm 2020 giữa chị và anh L phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cự cãi, nên từ đó chị và anh L ly thân cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được nữa, chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống tốt đẹp hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí L.
  • - Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh L có hai người con chung tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/5/2019. Từ khi ly thân cho đến nay, hai con chung ở bên nội. Vì vậy, khi ly hôn chị đồng ý giao hai con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
  • Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị tự nguyện cấp dưỡng mỗi người con 1.000.000 đồng/tháng, hai người con là 2.000.000 đồng/tháng vào ngày 10 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/7/2024 cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị P xác nhận quá trình chung sống chị và anh L không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Chí L:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh L đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh L đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, khi Cán bộ Tòa án đến tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L, thì mẹ ruột của anh L ở cùng địa chỉ tên Lê Thị Ú nhận thay và cam kết thông báo cho anh L. Đồng thời bà Ú cho biết, anh L cũng đồng ý ly hôn với chị P và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh L, do anh L bận đi làm Công ty, khó xin nghĩ việc, nên không thể có mặt tại Tòa án. Thậm chí Cán bộ Tòa án đã điện thoại cho anh L thông báo, thời gian, địa điểm phải có mặt tại Tòa, nhưng anh L trình bày đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Thái Thị Mọng P yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Chí L. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Nguyễn Chí L có nơi cư trú tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Thái Thị Mọng P có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Chí L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
  3. [3] Về nội dung vụ án:
    1. [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị P và anh L tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 20/02/2017. Như vậy, hôn nhân giữa chị P với anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

      Xét yêu cầu của chị P về việc xin ly hôn với anh L thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị P và anh L có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị P cho rằng do chị và anh L không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cự cãi, nên từ đó chị và anh L ly thân cho đến nay, giữa chị và anh L không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

      Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị P bỏ qua mọi chuyện, cho anh L thêm cơ hội để đoàn tụ gia đình, cùng nuôi dạy các con, nhưng chị P vẫn kiên quyết ly hôn với anh L. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhiều lần, mẹ ruột của anh L tên Nguyễn Thị Ú1 nhận thay và cam kết thông báo cho anh L. Theo thông tin từ bà Úl và Tòa án đã điện thoại cho anh L thông báo, thời gian, địa điểm phải có mặt tại Tòa, anh L trình bày đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị P và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, do anh L bận đi làm Công ty, khó xin nghĩ việc, nên không thể có mặt tại Tòa án.

      Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh L đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị P yêu cầu được ly hôn với anh L là có cơ sở.

      Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị Thái Thị Mọng P được ly hôn với anh Nguyễn Chí L.

    2. [3.2] Về quan hệ con chung: Chị P và anh L trong quá trình chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/5/2019. Từ khi ly thân cho đến nay, hai con chung ở bên nội. Vì vậy, khi ly hôn chị P đồng ý giao hai con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

      HĐXX xét thấy, từ khi chị P và anh L mâu thuẫn và không còn quan tâm đến nhau, thì hai con chung đang sống bên nội và hiện cháu D và cháu K vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp hai cháu phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho anh L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục hai cháu tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/5/2019 đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

      Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị P tự nguyện cấp dưỡng mỗi người con 1.000.000 đồng/tháng, hai người con là 2.000.000 đồng/tháng vào ngày 10 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/7/2024 cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt, nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này.

    3. [3.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị P xác nhận quá trình chung sống chị và anh L không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
  4. [4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Thái Thị Mọng P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Mọng P được ly hôn với anh Nguyễn Chí L.
  2. Về quan hệ con chung: Giao hai cháu tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 16/8/2013 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/5/2019 cho anh Nguyễn Chí L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Thái Thị Mọng P cấp dưỡng mỗi người con 1.000.000 đồng/tháng, hai người con là 2.000.000 đồng/tháng vào ngày 10 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/7/2024 cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt.
    • - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Nguyễn Chí L nuôi con; chị Thái Thị Mọng P được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Thái Thị Mọng P xác nhận quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Chí L không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Thái Thị Mọng P phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001228 ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Thái Thị Mọng P không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Mỹ Hiệp Sơn, Hòn Đất, Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Thị Mọng Ph kiện Nguyễn Chí L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger