|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HS-ST Ngày 14-10-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính
Bà Trần Thị Trúc Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Bùi Thị L; có vợ là Bùi Thị Q và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 23/6/2024, tạm giam ngày 28/6/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn Đ một mình đi xe taxi đến khu vực đường V, quận L, thành phố Hải Phòng rồi Đ đi bộ vào trong một ngõ nhỏ (không nhớ địa chỉ), gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng được 01 túi nilon (kích thước 02x02cm) có mép viền màu xanh, chứa ma túy. Đ cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần bên trái phía trước. Đến 00 giờ 05 phút ngày 23/6/2024, Đ đang đi bộ tại khu vực ngõ H đường N, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an phường T, quận K phát hiện bắt giữ quả tang cùng vật chứng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đ tại thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 822/KL-KTHS(MT) ngày 27/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “ Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,21 gam, loại: Methamphetamine”.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung trên. Mục đích Đ cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. Số tiền 500.000 đồng Đ sử dụng mua ma túy là do lao động mà có. Đ không nhớ đặc điểm xe taxi và người lái xe taxi. Người lái xe taxi không biết việc Đ mua và cất giữ ma túy. Đ không nhận dạng được người đàn ông bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 136/CT-VKSKA ngày 02 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và trình bày Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ: 18 – 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung:
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma tuý nên hồi 00 giờ 05 phút ngày 23/6/2024, tại khu vực ngõ H đường N, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,21 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo Nguyễn Văn Đ tàng trữ là 0,21 gam ma túy loại Methamphetamine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[10] Đối với số ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói là vật cấm lưu hành, cấm sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
- Về các nội dung khác:
[12] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Đ tại khu vực đường V, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/6/2024, hiện chưa xác định được rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật, được niêm phong lại trong bì giấy, dấu niêm phong số 822MT/PC09 của Phòng P.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 131/2024/HS-ST ngày 14/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 131/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
