TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2024/HS - ST Ngày: 14/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Bà Phạm Thị Bé.
2. Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Quốc S, sinh năm 1997, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: 116 Chung cư A, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Việt H, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966.
Tiền án:
Ngày 28/10/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 499/2019/HSST.
Nhân thân:
Ngày 23/11/2015 bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ, cất giấu trong người các loại dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác.
Ngày 19/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 415/2022/HSST.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/5/2024, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Quản Văn H1, sinh năm 1956; địa chỉ: H ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đống Ngọc C, sinh năm 1993; địa chỉ: K khu phố C, phường B, TP B, Đồng Nai, vắng mặt.
- Ông Lê Văn D, sinh năm 1990; địa chỉ: Xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Quản Thị K, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 28/10/2021, Lê Văn D, Đống Ngọc C và Trần Quốc S bàn bạc, rủ nhau đi trộm cắp tài sản thì tất cả đồng ý. C điều khiển xe mô tô biển số 94T1-9121 của C chở theo D và S đi từ phường B, thành phố B đến khu vực xã A, thành phố T để tìm tài sản trộm cắp. Khi tới xã A thì trộm được một chậu cây kiểng (chưa xác định được địa chỉ cụ thể) sau đó cả ba mang chậu kiểng giấu vào một bụi cây tại xã A rồi tất cả cùng nhau đi về lại phòng trọ của C tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, C đưa xe máy biển số 94T1-9121 cho S chở D đi đến chỗ cất giấu chậu cây kiểng trước đó để chở về tiêu thụ. D và S đi đến địa điểm cất giấu chậu cây kiểng trước đó đưa chậu kiểng lên xe để chở về, trên đường về thì gặp tổ tuần tra của Công an xã A phát hiện mời về trụ sở làm việc. Đến 07 giờ 30 phút cùng ngày thì S và D được Công an xã A cho về nhưng tạm giữ phương tiện là xe mô tô biển số 94T1-9121. Lúc này, S và D đi bộ về đến địa chỉ A ấp A, xã A, thành phố T thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61C1-731.18 màu đỏ-đen của ông Quản Văn H1 để dưới lòng đường và đang nổ máy. Thấy vậy, S nói D lấy trộm xe này thì D đồng ý, D lén lút tiếp cận chiếc xe và lên xe tăng ga tẩu thoát về phòng trọ của C (còn S bắt xe ôm đi về sau). Khi về đến phòng trọ của C, D kể lại sự việc cho C biết, do bực tức vì chiếc xe mô tô biển số 94T1 – 9121 của mình bị công an xã A giữ nên C yêu cầu D phải đi chuộc về đồng thời C đưa chiếc xe biển số 61C1-731.18 mà D vừa trộm được vào phòng trọ của mình cất giữ để lấy phương tiện đi lại và yêu cầu D trong thời hạn 05 ngày phải lấy xe từ Công an xã A về nếu không C sẽ lấy luôn chiếc xe mà D trộm được thì D đồng ý. Đến khoảng 12 giờ ngày 31/10/2021, S sử dụng chiếc xe 61C1-731.18 do C đang quản lý chở D đi đến chung cư H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, S ở lại đây còn D tiếp tục sử dụng và điều khiển xe này đi đến khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Do không đội nón bảo hiểm nên D bị lực lượng Công an phường D kiểm tra, quá trình kiểm tra D khai nhận chiếc xe mô tô 61C1-731.18 do mình trộm cắp được mà có, qua đó tự thú về hành vi phạm tội của mình. Công an phường D lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xử lý. Do hành vi phạm tội của D xảy ra trên địa bàn thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã bàn giao D cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
2
Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61C1-731.18.
Theo kết luận định giá tài sản và biên bản định giá tài sản ngày 04/11/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61C1-731.18 có giá 10.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Quốc S bỏ trốn do đó ngày 27/4/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T quyết định tách vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra bị can đồng thời truy nã đối với bị can S.
Quá trình thực hiện quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác định Trần Quốc S đang chấp hành án phạt tù theo bản án số 415/2022/HSST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, ngày 29/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phục hồi điều tra vụ án, bị can Trần Quốc S để tiếp tục điều tra, xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKS-TA ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Quốc S về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Đối với xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61C1-731.18, quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của bị hại Quản Văn H1. Vì vậy, ngày 09/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe này cho ông H1 là có căn cứ.
Đối với Lê Văn D đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đưa ra xét xử. Tội phạm và hình phạt được quyết định tại Bản án số 221/2022/HS-ST ngày 05/8/2022 về tội trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với Đống Ngọc C có hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” xảy ra trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã chuyển tố giác về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo quy định. Ngày 30/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có công văn số 950 về việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm, đã tiến hành thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Quản Văn H1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc S đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo Trần Quốc S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 28/10/2021, tại khu vực trước địa chỉ 103B ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị cáo Trần Quốc S đã cùng đồng phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61C1-731.18 trị giá 10.000.000 đồng của ông Quản Văn H1. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng mức hình phạt như trên đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại Quản Văn H1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
4
- - Khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc S phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
6
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
8
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |
9
10
11
Bản án số 131/2024/HS - ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 131/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
