|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI Bản án số: 131/2023/HSST Ngày: 06/12/2023. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và ông Đinh Quang Hòa.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HPT ngày 28/11/2023 đối với bị cáo:
Phùng Thị Thanh H, sinh năm 2004 tại thị xã S, Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, thị xã S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn V và bà Nguyễn Thị T; Chồng, Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/08/2023 đến ngày 06/09/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện P, Hà Nội; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 18/8/2023, Phùng Thị Thanh H nhắn tin nói chuyện với chị Đinh Thị H1. Qua nói chuyện thì H được biết bạn của H1 là chị Nguyễn Thị Y đi xe máy đến nhà H1 chơi. Lúc này, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của chị Y để bán lấy tiền ăn tiêu nên nhắn tin nhờ H1 hỏi chị Y cho H mượn xe. H hẹn đến chiều cùng ngày sẽ đem xe về trả và khi trả xe sẽ cho chị Y và H1 mỗi người 200.000đồng. H1 đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút H đến nhà chị H1 thì thấy chiếc xe máy Wave, biển kiểm soát: 29U1-40248 của chị Y dựng ở trong sân. H hỏi H1 đã mượn xe của chị Y hộ H chưa nhưng H1 nói chưa hỏi nên H đi về nhà. Sau khi H đi về thì H1 nói với chị Y về việc H muốn mượn xe của chị Y để đi có việc, khi về trả xe Huyền sẽ cho chị Y và H1 mỗi người 200.000đồng. H1 đưa điện thoại của mình cho chị Y đọc nội dung tin nhắn giữa H và H1. Do quen biết và đã từng cho H mượn xe nên sau khi xem tin nhắn thì chị Y tin tưởng đồng ý cho H mượn xe máy. Sau đó chị Y nhắn tin bằng tài khoản Facebook của H1 bảo H xuống nhà H1 lấy xe đi đến 11 giờ cùng ngày thì về trả xe. Khoảng 09 giờ cùng ngày, H đi bộ từ nhà mình đến nhà H1 gặp chị Y và hỏi: “Chìa khóa xe chị đâu, đưa em mượn?”. Chị Y giao xe và chìa khóa xe cho H mượn và hẹn H 11h phải trả xe cho chị Y. H đồng ý và điều khiển xe máy của chị Y đi đến cửa hàng điện thoại Tuấn T1 Mobile của anh Nguyễn Văn T2 ở cùng thôn cầm cố để vay tiền. Khi gặp anh T2 thì H nói: “Cháu đang cần tiền, chú cho cháu mượn 8.000.000đ, cháu để chiếc xe máy này ở đây làm tin hai, ba hôm nữa cháu sẽ trả chú tiền và lấy xe”. Anh T2 hỏi H: “Xe máy này của ai, xe có giấy tờ không? Nếu không phải xe của cháu thì chú không cho mượn tiền đâu”. H mở cốp xe máy của chị Y ra kiểm tra thì thấy trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy biển kiểm soát: 29U1-40248 và 01 giấy phép lái xe đều mang tên chị Nguyễn Thị Y. Sau đó, H nói với anh T2: “xe này là xe của cháu” và lấy giấy đăng ký xe của chị Y đưa cho anh T2 xem. Sau khi xem giấy tờ xe thì anh T2 tin tưởng đó là xe của H nên đồng ý cho H cầm cố xe máy và cho H vay 8.000.000 đồng. Trước đó, vào ngày 11/8/2023, H có cầm cố 01 chiếc điện thoại Iphone XS cho anh T2 để vay 3.000.000đ nên H muốn lấy chiếc điện thoại về để sử dụng. Do vậy, anh T2 trừ 3.000.000đồng rồi trả lại điện thoại Iphone XS và 5.000.000đ còn lại cho H. H cầm tiền và điện thoại rồi giao xe máy cùng giấy đăng ký xe của chị Y cho anh T2; giấy phép lái xe của chị Y vẫn để trong cốp xe. Sau đó, H đi bộ về nhà gặp em trai là Phùng Văn H2, sinh năm 2010. H2 hỏi H: “Chị đi đâu về đấy?”. H trả lời: “vừa đi cắm cái xe ở cửa hàng của chú T2”. H2 không hỏi gì nữa đi ra ngoài chơi, còn H lấy quần áo bỏ đi xuống trung tâm thành phố Hà Nội chơi.
Đến hẹn không thấy H về nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/8/2023, H1 gọi điện thoại bảo H mang xe máy về trả cho chị Y. Tuy nhiên, H nói dối là vi phạm giao thông bị bắt xe ở xã T, huyện B, thành phố Hà Nội và gửi cho chị H1 01 ảnh chụp xe Cảnh sát giao thông có sẵn trong máy của H để H1 tin tưởng. Sau đó, H đăng nhập tài khoản Facebook “Thư V1”của chị Vũ Tuệ T3, sinh ngày 05/02/2008, ở: Số B L, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội (T3 là bạn của H) nhắn tin cho H1 bảo H bị bắt xe ở huyện B, thành phố Hà Nội và nhờ H1 cùng chị Y lên xin xe hộ. Vì nghĩ H nói thật nên H1 và chị Y đã đi taxi đến Công an huyện B nhưng không liên lạc được với H nên cả hai quay về. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H lại dùng tài khoản Facebook của T3 nhắn tin cho H1 nói đã xin được xe ra và ngắt liên lạc với H1 và chị Y. Vì không thấy H mang xe về trả nên chị Y đến nhà H tìm thì được H2 cho biết ngày 18/8/2023, H có nói với H2 đi cắm xe ở cửa hàng điện thoại của anh T2. Khoảng 08 giờ ngày 23/8/2023, chị Y cùng chị Hà Thị Y1, sinh năm 1988, trú tại: Tổ dân phố C, N, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội và anh Đỗ Văn V2, sinh năm 1986, trú tại: thôn P, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội đi đến cửa hàng của anh T2 thì thấy xe máy của chị Y dựng trong cửa hàng. Sau khi được anh T2 cho biết đó là xe máy của H mang đến cầm cố để vay tiền thì chị Y đã tới Công an xã S trình báo.
Sau khi biết rõ sự việc anh Nguyễn Văn T2 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra công an: 01(một) chiếc xe máy hiệu Honda Wave; màu trắng, đen, bạc; biển kiểm soát: 29U1-40248; số khung: 3918KY376724; số máy: JA39E1244484; Xe đã qua sử dụng. 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe máy mang biển kiểm soát: 29U1-40248 mang tên Nguyễn Thị Y do Công an thị xã S cấp ngày 24/12/2019. 01(một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Y do Sở G cấp ngày 08/11/2022.
Sau khi ăn tiêu hết tiền thì ngày 28/8/2023, Phùng Thị Thanh H đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình và nộp lại cho Cơ quan điều tra: 01(một) chiếc điện thoại Iphone 6s, màu bạc, số Imeil: 353797081283354, lắp sim số: 0335396491, điện thoại đã qua sử dụng.
Ngày 30/8/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Sơn Tây đã tiến hành định giá và kết luận: “ 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave; màu trắng, đen, bạc; biển kiểm soát: 29U1-40248; số khung: 3918KY376724; số máy: JA39E1244484; Xe đã qua sử dụng có trị giá 12.000.000đồng.”
Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe máy biển kiểm soát: 29U1-40248 và các giấy tờ nói trên là của chị Nguyễn Thị Y nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cùng giấy tờ trên cho chị Y. Chị Y nhận lại tài sản cùng giấy tờ liên quan đến xe máy và không yêu cầu H bồi thường gì về dân sự nữa.
Đối với Nguyễn Văn T2 là người cho H cầm cố chiếc xe máy mang biển kiểm soát: 29U1-40248 để vay tiền. Qua kiểm tra thấy xe có giấy tờ đầy đủ và không biết đó là xe do H phạm tội mà có nên T2 tin tưởng cho H cầm cố xe máy để vay 8.000.000đ. H và gia đình đã trả lại cho T2 8.000.000đ; T2 nhận tiền và không yêu cầu đề nghị gì nữa.
Đối với Đinh Thị H1 là người được H nhờ hỏi mượn xe máy của chị Y để đi chơi. Tuy nhiên, H không nói cho H1 biết mục đích là lừa để chiếm đoạt xe máy của chị Y nên H đã hỏi mượn xe máy của chị Y cho H và được chị Y đồng ý nên không có căn cứ để xử lý đối với H1
Đối với Vũ Tuệ T3 là bạn của H có sử dụng tài khoản Facebook “Thư V1” và cho H biết mật khẩu nhưng T3 đã mất điện thoại nên không sử dụng tài khoản này và không nhớ mật khẩu đăng nhập. Hiện chị T3 không còn liên hệ gì với H và cũng không quen biết gì với H1. Việc H sử dụng tài khoản Facebook “Thư V1” để liên hệ với H1 thì T3 không biết.
Đối với Phùng Văn H2 là người được H nói cho biết là đi cắm xe máy nhưng H không nói cho H2 biết là đi cầm cố xe gì, của ai và H2 không biết xe mà H cầm cố là xe do phạm tội mà có.
Xét thấy anh Nguyễn Văn T2, chị Đinh Thị H1, chị Vũ Tuệ T3 và cháu Phùng Văn H2 không có hành vi vi phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phùng Thị Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 129/CT – VKS ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phùng Thị Thanh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6s, màu bạc, đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Phùng Thị Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 18/08/2023, tại nhà chị Đinh Thị H1 ở Thôn T, xã S, S, Hà Nội, Phùng Thị Thanh H đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt chiếc xe máy Wave, biển kiểm soát: 29U1-40248 của chị Nguyễn Thị Y, trị giá tài sản chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.
[3] Xét hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tác động với gia đình để bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, tuổi đời còn trẻ nên cho bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo qui định tại Điều 65 của BLHS, để cho bị cáo có điều kiện tự rèn luyện tu dưỡng bản thân, như thế cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 6S, màu bạc là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Thanh H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo: Phùng Thị Thanh H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phùng Thị Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã S, thị xã S, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc, số IMEI 353797081283354, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/11/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã S, Hà Nội).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tú |
Bản án số 131/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 131/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H lừa đảo chiếm đoạt tài sản
