TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2023/HS-ST Ngày: 06 - 12 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều
Bà Phạm Thị Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, đối với:
- Bị cáo: Dương Thị D, sinh năm 1970 tại thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm I, thôn C, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đ và bà Nguyễn Thị K (đã chết); có chồng (đã chết) và 03 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 341 do Công an huyện Đ lập ngày 13/9/2023; tạm giữ, tạm giam: Không, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thi G, sinh năm 1957; nơi cư trú: Cụm H, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1954; nơi cư trú: Cụm D, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị B, sinh năm 1963; nơi cư trú: Cụm C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Uông Thị T, sinh năm 1952; nơi cư trú: Cụm C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Cụm A, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955; nơi cư trú: Cụm A, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Dương Tiến L, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm A, thôn A, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Chị Dương Thị N1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Xóm I, thôn C, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1956; nơi cư trú: Cụm B, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1970; nơi cư trú: Cụm B, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 27/4/2023, Dương Thị D, sinh năm 1970 ở xóm I, thôn C, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội đi từ nhà ở thị xã S, thành phố Hà Nội đến cụm H, xã H, huyện Đ, thành phố hà N. Khi thấy cửa hàng T2 tại nhà số A, ngõ D, đường H của bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1957, D hỏi mua 01 hộp sữa, 01 bịch (10 gói) bim bim và 02 bịch thạch, khi bà G1 lấy hàng để ở tủ kính đưa thì D hỏi bà G1 có tiền lẻ đổi cho D, bà G1 đồng ý và lấy trong hộp tiền ở quầy được 100.000 đồng và lấy trong người 300.000 đồng đưa cho D 400.000 đồng. Cầm tiền xong, D nói với bà G1 “cháu vào nhà bà cháu đưa số tiền này, rồi quay lại lấy số hàng”. Sau đó, D quay xe máy đi vào trong ngõ, bà G1 đợi một lúc không thấy D quay lại, biết bị lừa nên bà G1 đã trình báo Công an. Quá trình điều tra truy xét, Công an huyện Đ đã tạm giữ vật chứng, đồ vật tài sản thu giữ của Dương Thị D gồm:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ đen, biển kiểm soát: 29V7-081.85 đã qua sử dụng, số máy: JC52E4299270; số khung: RLHJC5216CY209098.
- 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu SHARP FS8010 đã qua sử dụng.
- Số tiền 207.000 đồng (Hai trăm linh bẩy nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Dương Thị D khai nhận do không có công ăn việc làm ổn định và cần tiền để trang chải sinh hoạt cho bản thân nên D đã một mình đi xe máy nhãn hiện Honda Wave S màu đỏ đen, biển kiểm soát 29V7 - 081.85 từ xã P, huyện Q đến xã H, huyện Đ để lừa đảo chiếm đoạt tiền và hàng của những người bán hàng sử dụng cho bản thân. D thường đến cửa hàng tạp hóa hoặc quầy hàng có người già, người cao tuổi bán hàng giả vờ mua hàng, sau đó là nhờ chủ cửa hàng đổi tiền lẻ rồi cầm hàng, tiền hẹn một lúc sau quay lại trả nhưng bỏ đi để chiếm đoạt tiền và tài sản của người bán hàng. Ngoài vụ lừa đảo ngày 27/4/2023 của bà Nguyễn Thị G1 thì trước đó D đã thực hiện nhiều vụ, cụ thể:
Ngày 07/4/2023, D lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị N, sinh năm 1954 ở Cụm D, xã H, huyện Đ số tiền là 500.000 đồng và một nải Chuối tiêu.
Ngày 12/4/2023, D lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị B, sinh năm 1963 ở Cụm C, xã H, huyện Đ số tiền 500.000 đồng, 0,5 kg Lạc đỏ và 0,1 kg Nấm hương. Cùng ngày, D lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Uông Thị T, sinh năm 1952 ở Cụm C, xã H, huyện Đ số tiền 300.000 đồng;
Ngày 13/4/2023, D lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1963 ở Cụm A, xã H, huyện Đ số tiền 1.000.000 đồng và một túi nước giặt thương hiệu OMO.
Ngày 19/4/2023, D lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955 ở Cụm A, xã H, huyện Đ số tiền là 500.000 đồng và 10 quả Trứng vịt thường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 0,5kg Lạc đỏ thuộc loại hàng khô có trị giá 32.500 đồng; 0,1 kg Nấm hương thuộc loại hàng khô có trị giá 28.000 đồng; 10 quả Trứng vịt thường có trị giá 28.000 đồng; 01 túi nước giặt thương hiệu OMO có trị giá 140.000 đồng; 01 nải Chuối Tiêu 16 quả chuối có trọng lượng 2,5kg có trị giá 25.000 đồng. Tổng cộng: 253.500 đồng.
Tổng số D chiếm đoạt của những người bán hàng là 3.453.500 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn năm trăm đồng), trong đó tiền mặt là 3.200.000 đồng và số hàng hóa trị giá 253.500 đồng.
Bản Cáo trạng số 132/CT-VKSĐP ngày 10 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Dương Thị D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị D đã khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày bản thân đã nhận thức việc làm của mình là sai pháp luật nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Dương Thị D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường cho các bị hại nên không đề nghị xem xét. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo D 01 chiếc xe máy và 01 chiếc điện thoại di động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị D đã khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, trong các ngày 07/4/2023, ngày 12/4/2023, ngày 13/4/2023 và ngày 19/4/2023, bị cáo Dương Thị D đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của 06 bị hại với tổng số tiền mặt là 3.200.000 đồng và số hàng hoá trị giá 235.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền bị cáo Dương Thị D chiếm đoạt của các bị hại là 3.435.000 đồng.
Bị cáo Dương Thị D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng thủ đoan gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo D chiếm đoạt trong từng lần đều dưới mức 2.000.000 đồng nhưng hành vi của bị cáo thể hiện tính liên tục nên đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội trong nhiều ngày nhưng do các lần phạm tội đều dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần. Do đó, bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách niệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường tài sản cho các bị hại; tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không nhiều và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có chồng là thương binh có công với đất nước, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để giáo dục, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo Dương Thị D là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Trách nhiệm dân sự: Sau khi bị bắt, bị cáo Dương Thị D đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại là Phạm Thị N số tiền 525.000 đồng; bà Phạm Thị B số tiền 560.500 đồng; bà Nguyễn Thị M số tiền 528.000 đồng; bà Uông Thị T số tiền 300.000 đồng; bà Nguyễn Thị B1 số tiền 1.140.000 đồng và bà Nguyễn Thị G1 số tiền 400.000 đồng. Các bị hại đã nhận được số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì thêm về việc bồi thường dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không phải xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wase S màu đỏ đen, BKS 29V7-081.85 đã qua sử dụng, bị cáo Dương Thị D là người đăng ký tên chủ sở hữu. Xét chiếc xe máy này là phương tiện bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu SHARPFS8010 đã qua sử dụng, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo D nhưng không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 207.000 đồng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra xác định là tiền D lừa của bà Nguyễn Thị G1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà G1.
[7] Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Dương Thị D 08 (T1) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Giao bị cáo Dương Thị D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wase S màu đỏ đen, biển kiểm soát 29V7-081.85 đã qua sử dụng, số khung: RLHJC5216CY209098. số máy: JC52E4299270.
- + Trả lại cho bị cáo Dương Thị D 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu SHARP FS8010 đã qua sử dụng (Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2023 với Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội).
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Dương Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Văn Tuyến |
Bản án số 131/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 131/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hoảng 8 giờ 30 phút ngày 27/4/2023, Dương Thị D, sinh năm 1970 ở xóm I, thôn C, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội đi từ nhà ở thị xã S, thành phố Hà Nội đến cụm H, xã H, huyện Đ, thành phố hà N. Khi thấy cửa hàng T2 tại nhà số A, ngõ D, đường H của bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1957, D hỏi mua 01 hộp sữa, 01 bịch (10 gói) bim bim và 02 bịch thạch, khi bà G1 lấy hàng để ở tủ kính đưa thì D hỏi bà G1 có tiền lẻ đổi cho D, bà G1 đồng ý và lấy trong hộp tiền ở quầy được 100.000 đồng và lấy trong người 300.000 đồng đưa cho D 400.000 đồng. Cầm tiền xong, D nói với bà G1
