Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HSST

Ngày: 02/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Vinh và ông Lương Anh Dũng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/HSST ngày 04/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST- HS ngày 10/06/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐ- HPT ngày 21/06/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Quang L, sinh năm 2002; ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Đặng Văn H (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thu H1 (đã chết)

Theo danh chỉ bản số 255 ngày 11/04/2024 của Công an huyện T lập và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự .

Bị cáo tại ngoại. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú

Bị hại: Anh Vũ Hữu T, sinh năm 1981 (Bị cáo L có mặt tại phiên tòa)

Trú tại: Xóm M, thôn N, xã L, huyện T, Hà Nội

(Anh Thanh vắng m và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/12/2022 Đặng Quang L có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 điều khiển xe mô tô BKS 90B3-009.65 đi từ nhà ở T, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam đi Hà Nội theo hướng đường Q. Đến khoảng 01 giờ 10 phút cùng ngày, khi L điều khiển xe mô tô đi đến đường N, thuộc xã L, T, Hà Nội thì đâm vào khu vực chân và bàn để chân người lái bên phải của xe mô tô biển kiểm soát: 30M8 – 5549 do anh Vũ Hữu T (không có giấy phép lái xe) điều khiển đi hướng từ thôn N, xã L, huyện T, Hà Nội sang đường N làm hai xe mô tô đổ và văng ra đường. Hậu quả: anh T và L bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện V, Hà Nội.

Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 29/12/2022 thể hiện:

Tại Km15 + 700 đường N (gần chùa Y) thuộc Y, L, T, Hà Nội.

Hiện trường không còn nguyên vẹn, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu.

* Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn:

Đường Ngọc H2 là đường trải nhựa, phẳng, đường hai chiều có vạch sơn kẻ rời và kẻ liền chia hai phần đường. Đo lòng đường lần lượt từ trái qua phải theo chiều T hướng Văn Điển được lần lượt các số đo 08m50; 09m00.

  • Lối mở từ đường N hướng vào đường N rộng 08m80.
  • Đường N rộng 06m00.
  • Lối mở từ đường N hướng vào đường T rộng 06m20
  • Đường T rộng 03m50.

* Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  1. Đám nhựa vỡ KT (08m60 x 05m80);
  2. Vết cày dài 11m65;
  3. Vết cày dài 01m70;
  4. Đám máu KT (00m20 x 00m20);
  5. Xe ô tô BKS 90B3 – 00965;
  6. Đám máu KT (00m60 x 00m50);
  7. Xe mô tô BKS 30M8 – 5549.

* Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làn chuẩn:

Địa điểm mốc nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép đường bên phải đường N theo chiều từ đường N hướng vào đường N.

Mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép đường bên phải đường N theo chiều T hướng Văn Điển.

* Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật dấu vết:

1. Đám nhựa vỡ KT (08m60 x 05m80): Tâm đám nhựa vỡ cách mép đường chuẩn là 04m10, đồng thời cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 90B3 – 00965 là 01m90.

2. Vết cầy dài 11m65: Đầu vết cày hướng Thường Tín cách mép đường chuẩn là 05m60, đồng thời cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 90B3 – 00965 là 03m80; Cuối vết cày trùng với bàn để chân chính bên trái xe mô tô biển kiểm soát 30M8 – 5549.

3. Vết cày dài 01m70: Đầu vết cày hướng Thường Tín cách mép đường chuẩn là 05m10; Cuối vết cày hướng Văn Điển cách mép đường chuẩn là 05m00, đồng thời cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 90B3 – 00965 là 00m60.

4. Đám máu kích thước (00m20 x 00m20): tâm đám máu cách mép đường chuẩn là 05m35, đồng thời cách tâm trục bánh xe mô tô BKS 90B3 – 00965 là 01m40.

5. Xe mô tô biển kiểm soát 90B3 – 00965: Được dựng trên đường N; Đầu xe hướng về phía đường N và hơi chếch phía Thường Tín, do từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 05m80 đồng thời cách điểm mốc là 04m70; Đuôi xe hướng về phía đường T và hơi chếch hướng Văn Điển, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau và mép đường chuẩn được 04m95.

6. Đám máu KT (00m60 x 00m50): tâm đám máu cách mép đường chuẩn là 04m50, đồng thời cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 30M8 – 5549 là 00m30.

7. Xe mô tô Biển kiểm soát 30M8 – 5549: Đổ nghiêng sang trái nằm trên đường N; Đầu xe hướng Văn Điển, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 02m60; Đuôi xe hướng T, đo từ hính chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn được 02m55.

Cơ quan điều tra thu giữ:

  • 01 xe mô tô BKS: 30M8-5549 của Vũ Hữu T
  • 01 xe mô tô BKS: 90B3-009.65; 01 đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đều mang tên Đặng Quang L.

Ngày 17/01/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông;

* Dấu vết trên phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 30M8-5549:

  • Mặt ngoài của lốc máy và thanh ốp kim loại bên phải xe để lại vết va chạm làm xô lệch thanh ốp kim loại khỏi vị trí ban đầu. Trên bề mặt lốc máy bám dính chất dạng đỏ chứa cơ thể người. Vết có chiều từ phải qua trái, kích thước 15x30cm, điểm thấp nhất của vết cách đất 20cm;
  • Mặt bên trái xe gồm: Rỏ đựng ốp nhựa gương chiếu hậu, bàn để chân người lái, cần gạt số để lại vết va chạm làm cong bẹp rỏ đựng, rách cao su, trầy xước ốp nhựa, xô lệch cần gạt số vết có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải. Vết kích thước trên diện 85x75cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất 16cm.

* Dấu vết trên phương tiện xe mô tô BKS: 90B3-009.65:

  • Mặt ngoài đầu xe phía trước gồm: Mặt nạ xe, chắn bùn, yếm chắn gió trước hai bên, khung càng xe để lại vết va chạm mạnh làm vỡ nhựa, bung rời mặt nạ, bung rời yếm chắn gió bên trái và phải, làm cong khung càng xe vết kích thước trên diện 80x60cm. Chiều hướng tác động từ trước về sau. Điểm thấp nhất cách mặt đất 30cm;
  • Mặt ngoài bàn để chân người lái bên trái để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt làm lộ ánh kim vết có chiều từ trước về sau. Vết có kích thước 1,5x1,5cm, cách mặt đất 33cm.

Ngày 06/02/2023, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T ra quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C giám định cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe mô tô BKS 90B3 – 009.65 và xe mô tô BKS 30M8 – 5549

Tại bản kết luận giám định số 740/KL-KTHS ngày 20/02/2023 của V1 Bộ C kết luận:

  1. Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 90B3 – 00965 với xe mô tô BKS 30M8 – 5549 trên phương tiện và trên mặt đường tại hiện trường;
  2. Không xác định được tốc độ của xe mô tô BKS 90B3 – 00965 và xe mô tô BKS 30M8 – 5549 ngày trước khi xẩy ra tai nạn là bao nhiêu km/h.

Biên bản xác minh sơ bộ thương tích làm việc ngày 29/12/2022 tại khoa cấp cứu – Bệnh viện V: Bệnh nhân Vũ Hữu T, sinh năm: 1981, trú tại: N, L, T, Hà Nội vào viện lúc 02 giờ ngày 29/12/2022 trong tình trạng: tỉnh, đồng tử hai bên đều, còn phản xạ ánh sáng, huyết động ổn, hàm mặt xây xát, bụng mềm, chậu vững, chân phải có vết thương dập nát cẳng bàn chân, băng thấm máu nhiều.

Kết quả sinh hóa nồng độ cồn là 14,321 mmol/l.

Ngày 06/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định tỉ lệ phần trăm thương tích đối với anh Đặng Quang L và anh Vũ Hữu T.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y thương tích số 1088/KLTTCT-TTPY ngày 01/8/2023 của Trung tâm P kết luận thương tích của anh Vũ Hữu T:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

1.Các kết quả chính:

  1. Xuất huyết dưới nhện vùng trán phải hiện đã hết: 8%;
  2. Ổ tổn thương nhu mô não vùng trán phải hiện còn ổ giảm tỉ trọng: 21%;
  3. Vỡ phức hợp mũi- sàng- bướm: 36%;
  4. Vỡ xương thái dương trái lan xuống xương đá: 16%;
  5. Gãy xương sườn số III bên trái: 02%;
  6. Sẹo vết mổ cẳng tay phải: 02%;
  7. Gãy xương trụ phải: 06%;
  8. Tổn thương lóc da cẳng- bàn chân phải, gãy phức tạp 1/3 dưới 2 xương cẳng chân, gãy mắt cá trong, gãy phức tạp khối xương cổ chân, trật Lifranc, vỡ xương gót, xương sên, xương thuyền, xương bàn ngón I, II, III, IV, đứt gân chày trước đã phẫu thuật cắt lọc, găm kim, cố định ngoại vi xương chày phải, nối gân chày trước, cắt đoạn động mạch chày trước đụng dập nối trực tiếp, ghép da cắt lọc tổ chức hoại tử vùng khuyết phần mềm cẳng bàn chân phải. Hiện cứng khớp cổ chân phải: 38,95%;
  9. Sẹo lấy da ghép vùng đùi phải: 01%;

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Vũ Hữu T tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 29/12/2022 là 79% (Bảy mươi chín phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng lùi tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác:

Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Vũ Hữu T do vật tày, tày có cạnh gây ra.

Hiện chưa đánh giá hết mức độ và di chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi có căn cứ”.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y thương tích số 1800/KLTTCT-TTPY ngày 11/12/2023 của Trung tâm P kết luận thương tích của anh Đặng Quang L:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

1.Các kết quả chính:

  1. Sẹo vết thương mi trên mắt trái: 03%;
  2. Sẹo vết thương dưới ổ mắt trái: 03%;
  3. Sẹo mổ niêm mạc ngách tiền đình hàm trên bên trái: 01%;
  4. Vết biến đổi sắc tố da vùng quanh miệng bên trái: 1,5%;
  5. Vết biến đổi sắc tố da mặt trước gối phải: 0,5%;
  6. Tụ máu, khí ngoài màng cứng vùng trán trái, hkoong còn hình ảnh trên phim: 05%;
  7. Vỡ thành xoong trán trái: 07%;
  8. Vỡ các thành hốc mắt trái đã phẫu thuật kết hợp xương: 07%;
  9. Vỡ các thành xoong hàm trái đã phẫu thuật kết hợp xương: 09%;
  10. Gẫy cung tiếp gò má trái đã phẫu thuật kết hợp xương: 08%;
  11. Gẫy xương mũi: 07%;
  12. Mắt trái tổn thương dây thần kinh thị giác, mắt trái thị lực kính cũ 20/200, mắt phải 20/20: 21%;
  13. Gãy đầu dưới xương quay trái: Trong hồ sơ y tế của Bệnh viện V và Bệnh viện Đ không ghi nhận có chấn thương cổ tay trái và chụp phim cổ tay trái nên không có căn cứ để xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

2. Kết luận:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đặng Quang L tại thời điểm giám định là; 54% (Năm mươi tư phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại lùi tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác:

Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày, tày có cạnh gây nên.

Hiện chưa đánh giá được hết mức độ và di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi tháo phương tiện kết hợp xương.

Tại Cơ quan điều tra Đặng Quang L khai: Khoảng 00 giờ ngày 29/12/2022 Đặng Quang L điều khiển xe mô tô BKS 90B3-009.65 đi từ nhà ở T, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam đi Hà Nội theo hướng đường Q, với tốc độ khoảng 60-70km/giờ đi giữa phần đường bên phải theo chiều đi. Khi L đi đến đường N, thuộc xã L, T, Hà Nội thì va chạm với phương tiện giao thông khác, L không phát hiện được và không nhớ gì sau tai nạn.

Anh Vũ Hữu T khai: Ngày 28/12/2022 anh Vũ Hữu T có uống rượu từ sáng đến 13 giờ cùng ngày, anh T đi ngủ đến khoảng 01 giờ ngày 29/12/2022 anh T điều khiển với xe mô tô BKS 30M8 – 5549 đi với tốc độ khoảng 30km/giờ đi hướng từ nhà ở thôn N, xã L đi sang đường N theo hướng T- V, khi đi đến khu vực giao nhau giữa đường N với đường sắt và đường N thì anh T dừng lại mặc áo mưa và quan sát không thấy có phương tiện nào cản trở nên anh T đi thẳng qua đường N theo hướng T- V, thì đột nhiên có 01 xe mô tô đâm vào ngang xe vào khu vực bàn để chân và chân bên phải người lái làm xe mô tô của anh bị văng đi. Sau tai nạn anh T không nhớ gì.

Đối với xe mô tô BKS: 30M8-5549, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe mô tô là của chị Lê Thị Tố L1 (sinh năm: 1982, NKTT: Thôn N, xã L, huyện T, Hà Nội- là vợ anh Vũ Hữu T), nên ngày 29/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T đã trao trả xe mô tô cho chị L1, chị L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 90B3-009.65, quá trình điều tra xác là tài sản của Đặng Quang L, L mua lại của anh Thái Xuân B (sinh năm: 1989, NKTT: X5, T, K, Hà Nam). Nên ngày 29/5/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Đặng Quang L cho Đặng Quang L;

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Quang L cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự:

Anh Vũ Hữu T từ chối đi giám định bổ sung, không yêu cầu Đặng Quang L bồi thường về thương tích và chiếc xe mô tô biển số: 30M8-5549 bị hư hỏng nhẹ sau tai nạn và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đặng Quang L.

Xác định nguyên nhân xẩy ra tai nạn và lỗi vi phạm: Nguyên nhân xẩy ra tai nạn là lỗi hỗn hợp.

+ Bị cáo: Đặng Quang L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 90B3 – 00965 đi trên đường N hướng T- T, khi đi đến khu vực Km15+700 đường N thuộc xã L, huyện T, Hà Nội. Do L điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát phía trước chiều đi của mình vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông va chạm với xe mô tô BKS 30M8 – 5549 do anh Vũ Hữu T điều khiển.

+ Bị hại: Anh Vũ Hữu T có một phần lỗi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô trong máu có nồng độ Ethanol là 14,321 mmol/l (65,99 mg/100ml), vi phạm khoản 3 điều 24 và khoản 9 điều 8- Luật giao thông đường bộ.

Tại bản cáo trạng số 122/CT- VKSTT ngày 30/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo Đặng Quang L về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà:

Bị cáo Đặng Quang L thành khẩn khai nhận tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo ngoài xã hội.

Bị hại là anh Vũ Hữu T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh T theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện T duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đề nghị như sau:

  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 48 Bộ luật hình sự
  • Xử phạt Đặng Quang L mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
  • Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo L 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Quang L

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy lời khai của bị cáo Đặng Quang L tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.

Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 10 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực Km15+700 đường N, xã L, huyện T, TP ., bị cáo Đặng Quang L có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 điều khiển xe mô tô, BKS: 90B3-009.65 đi trên đường N hướng T - T do điều khiển mô tô thiếu chú ý quan sát phía trước chiều đi của mình đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và Điều 11 Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 30M8- 5549 do anh Vũ Hữu T điều khiển đi hướng thôn N, xã L, huyện T, Hà Nội sang đường N. Hậu quả làm anh T bị tổn thương cơ thế 79%.

Hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Đặng Quang L với tội danh “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét về lỗi trong vụ án này, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là lỗi hỗn hợp, bị hại là anh T cũng có một phần lỗi khi điều khiển mô tô không có giấy phép lái xe và trong máu có nồng độ Ethanol là 14,321 mmol/1 (65,99 mg/100ml) vi phạm khoản 3 Điều 24 và khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho người tham gia giao thông khác do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung

[4]. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại cũng có một phần lỗi và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Xét bị cáo Đặng Quang L có nơi cư trú rõ rằng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn bố mẹ đều đã chết, bị hại có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe và trong máu có nồng độ cồn nên không nhất thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022 thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Không xem xét

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã tự thỏa thuận do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo L 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Quang L khi án có hiệu lực pháp luật.

[9]. Về án phí: Bị cáo Đặng Quang L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự và đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quang L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022

Xử phạt Đặng Quang L 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Quang L về UBND phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

  • Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Áp dụng Luật giao thông đường bộ.
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo L 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đặng Quang L khi án có hiệu lực pháp luật theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì ngày 05/06/2024

Về án phí: Bị cáo Đặng Quang L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại là anh Vũ Hữu T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HN;
  • - VKS, CA, Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Tự Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 131/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quang L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger