|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số:131/2024/HSST Ngày: 15/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:1.Ông Quách Đình Hoằng.
2.Bà Tô Thị Lành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đại Bình – Thư kýTòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo sau:
Nguyễn Văn T. Tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam. Sinh năm 1973, tại Bình Định.
Nơi thường trú: Tổ D, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe.
Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1944 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1948.
Có vợ Phùng Thị Tuyết A, sinh năm 1976 và có 01 người con, sinh năm 2008. Vợ, con của bị cáo hiện trú tại: tổ D, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Văn T bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
*Người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại:
- Puih H'Thảo, sinh ngày 26/01/2008. Dân tộc: Jrai
Nơi thường trú: Làng Ố, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai. Vắng mặt - Puih Lê Trường D, sinh ngày 31/10/2008. Dân tộc: Jrai
Nơi thường trú: Thôn P, phường Y, TP ., tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
- Ông P (cha của Puih H). Dân tộc: Jrai
Nơi thường trú: Làng Ố, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai. Vắng mặt - Ông Lê Hữu N1 (là cha của Puih Lê Trường D).
Nơi thường trú: Thôn P, phường Y, TP ., tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị T1.
Nơi thường trú: Tổ B, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai. Có mặt. - Bà K.
Nơi thường trú: Làng Phung, xã B, TP ., tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
* Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Rmah V.
Nơi thường trú: Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T là người đã được cấp Giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định, có giá trị đến ngày 08/11/2028, bị cáo T làm nghề lái xe ô tô thuê. Ngày 29/9/2023, T được bà Trần Thị T1 thuê lái xe ô tô tải biển số 81C-087.46 chở thùng ong từ TP . đến huyện C, tỉnh Gia Lai. Khoảng hơn 13 giờ 30 phút ngày 29/9/2023, T điều khiển xe ô tô tải 81C-087.46 đi đến đường V, phường Y, TP .. Đường V đoạn này là đường hai chiều, thẳng, có giải phân cách cứng ở giữa; mỗi chiều lưu thông được chia thành 03 làn đường: Làn sát giải phân cách cứng dành cho xe ô tô lưu thông, làn ở giữa dành cho xe ô tô và mô tô lưu thông, làn trong cùng (giáp vỉa hè) dành cho xe máy và xe thô sơ. Lúc này trời nắng, tầm quan sát không bị hạn chế; mật độ phương tiện tham gia giao thông trên đường V vắng. T am điều khiển xe ô tô 81C-087.46 lưu thông ở làn đường giữa của đường V theo hướng TP . đi huyện C, tỉnh Gia Lai, với tốc độ khoảng 50 km/h (theo lời khai của T). Cùng lúc này trên đường V có xe gắn máy biển số 81AA.194.60 do chị Puih H (sinh ngày 26/01/2008, trú làng Ố, phường H, TP .) điều khiển, chở anh Puih Lê Trường D1 (sinh ngày 31/10/2008, trú làng P, phường Y, TP.) đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe ô tô 81C-087.46 và cũng đi trên làn đường giữa, cách đầu xe ô tô 81C-087.46 khoảng 10 mét. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi xe ô tô tải 81C-087.46 do T điều khiển đi đến đoạn cuối giải phân cách cứng trên đường V (gần hết đoạn đường có giải phân cách cứng), thì kính đeo mắt của T bị rơi xuống sàn xe. T không giảm tốc độ của xe ô tô 81C-087.46, không tập trung quan sát phía trước, không giữ khoảng cách an toàn với xe gắn máy 81AA.194.60 và cúi người xuống để nhặt kính, thì phía trước đầu xe ô tô 81C-087.46 tông vào phía sau xe gắn máy 81AA.194.60, làm xe gắn máy 81AA.194.60 cùng với chị H, anh Duy n xuống mặt đường phải của đường V theo hướng lưu thông; chị H và anh D1 bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh G cấp cứu, điều trị. Ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an T3 đã tiến hành đo, vẽ, xác định hiện trường; ngày 16/11/2023, lực lượng Cảnh sát giao thông chuyển hồ sơ vụ tai nạn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku để xử lý. Quá trình xác minh, điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông theo quy định và xác định vị trí va chạm giữa hai phương tiện là tại cản trước (vị trí phần bên phải biển số phía trước) của xe ô tô 81C-087.46 và đuôi của xe gắn máy 81AA-194.60.
Chị P1H’Thảo điều trị thương tích đến ngày 07/10/2023 thì ra viện, anh P1Lê Trường D1 điều trị thương tích đến ngày 25/10/2023 thì ra viện. Qua giám định, kết luận chị H bị tổn thương cơ thể 17% (mười bảy phần trăm); anh D1 bị tổn thương cơ thể 72% (bảy mươi hai phần trăm).
Kết quả dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường được trải bê tông nhựa. Lấy mép đường phải hướng từ đường P-V-Tôn Đức T2-Lê Đại H1 đi thị trấn P, huyện C, làm chuẩn, xác định có 02 đoạn đường khác nhau: Đoạn thứ nhất từ ngã tư đường P-V-Tôn Đức T2-Lê Đại H1, đến trước số nhà A là đoạn đường có giải phân cách cứng, áp dụng lưu thông 01 chiều; mặt đường rộng 9,8m và được chia thành 03 làn đường (làn xe ô tô, làn xe ô tô và xe mô tô, làn xe gắn máy), có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ. Đoạn thứ hai từ vạch kẻ đường dành cho người đi bộ (điểm vừa kết thúc giải phân cách cứng), hướng đi thị trấn P, huyện C là đoạn đường có vạch kẻ liền màu vàng phân đôi làn đường, áp dụng lưu thông 02 chiều. Lòng đường bên phải hướng đi thị trấn P, huyện C rộng 10,3m, có vạch kẻ đường màu trắng liền phân chia thành 02 làn đường.
- Tại điểm giữa vạch kẻ đường dành cho người đi bộ (ở làn đường giữa), có vết cày (01) chiều hướng từ ngã tư đường P-V-Tôn Đức T2-Lê Đại H1 đi thị trấn P, huyện C, dài 3,5m, rộng 0,3m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 4,5m, điểm cuối cách mép đường chuẩn 4,2m; cuối vết cày (1) cách 0,35m hướng đi thị trấn P là vết cày (02) chiều hướng đi thị trấn P, vết cày dài 5,7m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn 4,5m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn 4,7m;
- Xe gắn máy biển số 81AA-194.60 nằm ngã nghiêng trên lề đường phải, trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1,3m, cách cuối vết cày (02) 6,4m; xe ô tô biển số 81C-087.46, sau tai nạn dừng ở lòng đường phải, trục bánh sau bên phải cách điểm cuối vết cày (02) là 16m, cách mép đường chuẩn 4,2m, trục bánh trước bênh phải cách mép đường chuẩn 4,4m.
Kết quả khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe ô tô biển số 81C-087.46:
Khung bảo vệ bằng kim loại trước đầu xe bị móp lõm, diện (40x23)cm, chiều hướng từ trước ra sau; tâm vết cách mặt đất 88cm, có bám dính chất sơn màu đen, diện (5,4x4,5)cm. Phần bên phải biển số phía trước bị cong gập về phía sau; tâm cách mặt đất 65cm .
Tại Kết luận giám định ngày 08/12/2023 của Sở Giao thông Vận tải tỉnh G, kết luận: Xe ô tô biển số 81C-087.46 tại thời điểm giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Kết quả khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe gắn máy biển số 81AA-194.60:
Vị trí khớp nối giữa ốp nhựa trước đầu xe và đồng hồ công-tơ-mét bị bung hở khỏi vị trí lắp ráp, tạo khe hở 05cm; cụm công tắc tay lái bên trái bị xoay lệch khỏi vị trí ban đầu, chiều hướng từ dưới lên trên. Bửng chắn gió bên trái vị trầy xước nhựa diện (27x5)cm, hướng từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 28cm. Ốp cao-su gác chân trước bên trái bị bong tróc ra khỏi trục sắt; ốp nhựa hông xe bên trái bị nứt vỡ, trầy xước nhựa diện (15x5)cm. Ốp nhựa trên cụm đèn S, đèn xi-nhan phía sau bị bung hở khỏi vị trí lắp ráp, có vết bong tróc sơn diện (3x2)cm; biển số phía sau đuôi xe bị cong vênh, biến dạng, mặt nhựa bảo vệ biển số bị nứt vỡ diện (20x14)cm. Chắn bùn bánh xe sau bị cong lệch chiều hướng trái sang phải.
Qua định giá, xác định xe gắn máy biển số 81AA-194.60 sau tai nạn bị hư hỏng, thiệt hại 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 260; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Bị cáo Nguyễn Văn T là người đã được cấp Giấy phép lái xe hạng B2, có giá trị đến ngày 08/11/2028. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/9/2023, T điều khiển xe ô tô tải biển số 81C-087.46 lưu thông trên đường V theo hướng TP . đi huyện C, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi xe ô tô 81C-087.46 do T điều khiển đi đến cuối giải phân cách cứng trên đường V, thì tông vào phía sau xe gắn máy biển số 81AA-194.60 do chị P2H’Thảo điều khiển, chở anh P1Lê Trường D1 lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả, chị P1H’Thảo bị tổn thương cơ thể 17% (mười bảy phần trăm), anh P1Lê Trường D1 bị tổn thương cơ thể 72% (bảy mươi hai phần trăm); xe gắn máy 81AA-194.60 bị hư hỏng, thiệt hại 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
- Xét về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố: Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
- Xét về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. - Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được pháp luật nhưng bị cáo Nguyễn Văn T đã điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, nhưng không tập trung quan sát, không giảm tốc độ khi có chướng ngại vật phía trước, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình nên đã gây ra vụ tai nạn giao thông làm bị thương 02 người, với tổng tỷ lệ thương tật 89%. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm sức khỏe của người khác, an toàn công cộng, trật tự công cộng mà còn gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, cần xử cho bị cáo một mức án nghiêm. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, còn nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bên cạnh đó bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe gắn máy tham gia giao thông khi chưa đủ 16 tuổi và đi không đúng làn đường quy định; Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
- Đối với bà Trần Thị T1 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 81C-087.46 và bà K là chủ chiếc xe gắn máy biển số 81AA.194.60. Bà T1, bà K đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì nên không xét.
- Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại Puih H'Thảo 10.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Puih Lê Trường D1 20.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì nên không xét.
- Về án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 260; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 15/7/2024.
- Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng |
Bản án số 131/2024/HSST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 131/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
