Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 131/2025/HS-ST

Ngày 30-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Cao Thị Hạ

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Lương Thị N, sinh năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: C, phường N, quận A thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH S và túi Nylon Kiệt P; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C và bà Nguyễn Thị L; có chồng là Zhu Z, và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2025, có mặt.

2. Trần Thị Trang P1, sinh năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Q, phường N, quận A thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Kế toán Công ty TNHH sản xuất dây đai và túi Nylon Kiệt P; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1; có chồng là Đỗ Thế A và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2025, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH S (Công ty S), MST 0201576636, địa chỉ trụ sở: số B Quốc lộ E, xã N, quận A, thành phố Hải Phòng. Ngành nghề kinh doanh chính: sản xuất các sản phẩm nhựa (có hoạt động sản xuất, kinh doanh thật. Lương Thị N làm Giám đốc, Trần Thị Trang P1 làm kế toán.

Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2023, để hợp thức hóa đầu vào cho Công ty S (mặt hàng nhựa tái chế, nguyên sinh, phụ gia mua thu gom tại các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, không có hóa đơn), Lương Thị N đã chỉ đạo Trần Thị Trang P1 mua hóa đơn GTGT khống của một số doanh nghiệp khác. P1 liên lạc với đối tượng nam giới, khoảng 50 tuổi, có tên là T2, ở Thành phố Hồ Chí Minh (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 92 tờ hóa đơn GTGT khống của 13 Công ty với giá từ 6% - 8% trên tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn (đã bao gồm thuế). Công ty S đã sử dụng 83 tờ hóa đơn (của 10 Công ty) để kê khai, báo cáo thuế cụ thể:

  1. Công ty TNHH S1: 11 tờ hóa đơn, ghi tổng giá trị hàng hóa là 3.696.485.000 đồng.
  2. Công ty TNHH T3 vụ T: 22 tờ hoá đơn ghi tổng giá trị tiền hàng là 11.907.170.000 đồng.
  3. Công ty TNHH B: 30 tờ hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hóa là 13.366.976.916 đồng.
  4. Công ty TNHH S2: 01 tờ hoá đơn ghi giá trị tiền hàng là 11.880.000 đồng.
  5. Công ty TNHH V: 02 tờ hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hóa là 141.240.000 đồng.
  6. Công ty TNHH T3: 06 tờ hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hóa là 5.739.648.497 đồng.
  7. Công ty TNHH T4: 01 tờ hoá đơn ghi giá trị tiền hàng là 643.698.000 đồng.
  8. Công ty TNHH T5: 05 tờ hóa đơn, trong đó có 04 tờ hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hóa là 78.489.000 đồng, đã sử dụng kê khai báo cáo thuế.
  9. Công ty TNHH T6: 02 tờ hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hóa là 210.000.000 đồng.
  10. Công ty TNHH S3: 02 hoá đơn ghi tổng giá trị hàng hóa là 1.453.020.480 đồng.

Còn 09 tờ hóa đơn đã mua của Công ty khác, nhưng Công ty S không sử dụng để kê khai, báo cáo thuế gồm:

  1. Công ty TNHH T7: 01 tờ hoá đơn.
  2. Công ty TNHH D: 06 tờ hóa đơn.
  3. Công ty TNHH T8: 01 tờ hoá đơn.

và 01 tờ hóa đơn số 2826 ngày 10/11/2022 của Công ty T5.

Cách thức mua bán hóa đơn: Sau khi nhận chỉ đạo của N, P1 đã liên lạc với T2 trao đổi về số lượng hàng hóa, số tiền cần mua hóa đơn GTGT. T2 chuyển hợp đồng, chứng từ, hoá đơn của công ty xuất khống cho Công ty S qua ứng dụng Zalo hoặc địa chỉ email của P1 (từ địa chỉ nguyentam.cv2020@gmail.com địa chỉ mail trantrangphuong@gmail.com. Việc đảo tiền mua bán được các bên thực hiện bằng cách: Công ty bán hóa đơn chuyển tiền (tương đương với số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn đã trừ đi 6%-8% tiền phí mua hóa đơn) vào tài khoản cá nhân của Lương Thị N (A1, B1) hoặc đưa tiền mặt cho Trần Thị Trang P1 (T2 đi cùng với một người khác không xác định được nhân thân, lai lịch). Sau đó Công ty S sẽ chuyển khoản lại cho Công ty bán hóa đơn.

Sau khi sử dụng 83/92 tờ hóa đơn GTGT khống mua của các Công ty trên để kê khai, báo cáo thuế, Công ty S đã phát hiện thấy các Công ty xuất hóa đơn cho Công ty S nêu trên không có thật, không có hoạt động sản xuất kinh doanh thật. Do đó, Công ty S đã chủ động xuất toán 83/92 hóa đơn đã sử dụng báo cáo thuế, điều chỉnh kê khai, nộp thuế bổ sung đối với các tờ hóa đơn trên (từ ngày 31/7/2021 đến ngày 30/01/2023) tại Chi cục thuế khu vực Hồ N - A, thừa so với số tiền thuế đã kê khai 3.448.439.526 đồng, được khấu trừ tại kì báo cáo thuế quý IV/2024. Việc điều chỉnh kê khai, nộp thuế bổ sung của Công ty S trước thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế và trước thời điểm cơ quan điều tra phát hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh 13 Công ty bán hóa đơn GTGT cho Công ty S nêu trên, kết quả: các Công ty này đều là Công ty “ma”, không có thật, không có hoạt động sản xuất kinh doanh thật, những người đứng tên Giám đốc đều khai không biết, không thành lập các Công ty này.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Thị N và Trần Thị Trang P1 khai nhận việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT như trên.

* Vật chứng gồm 92 tờ hóa đơn GTGT do các Công ty khác xuất cho Công ty S chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 129/CT-VKSHP-P3 ngày 16/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Lương Thị N, Trần Thị Trang P1 về tội Mua bán trái phép hóa đơn quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng. Các bị cáo đều thừa nhận tổng số hóa đơn mua bán cáo trạng nêu là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Thị N từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng. Xử phạt bị cáo Trần Thị Trang P1 từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đều về tội Mua bán trái phép hoá đơn.

Về xử lý vật chứng: 92 tờ hóa đơn GTGT do các Công ty khác xuất cho Công ty S là vật chứng chuyển lưu theo hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ năm 2021-2023, Lương Thị Nghĩa là giám đốc đã chỉ đạo Trần Thị Trang P1 là kế toán mua trái phép 92 tờ hóa đơn GTGT của 13 Công ty khác để hợp thức hóa đầu vào của Công ty S nhằm bù các chi phí của doanh nghiệp.

Hành vi của các bị Lương Thị N, Trần Thị Trang P1 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép hoá đơn quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung: Các bị cáo đã mua tổng cộng 92 tờ hóa đơn GTGT nên hành vi của các bị cáo vi phạm điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự (điểm d, Hoá đơn đã ghi nội dung từ 30 số trở lên).

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của Nhà nước. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[7] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo đều là người thực hành cùng nhau mua bán trái phép hoá đơn, Hội đồng xét xử phân hoá vai trò các bị cáo như sau: Bị cáo Lương Thị Nghĩa là giám đốc công ty S, chỉ đạo kế toán thực hiện việc mua trái phép hóa đơn nên có vai trò cao nhất. Bị cáo Trần Thị Trang P1 là kế toán được Lương Thị N trả lương hàng tháng, thực hiện theo chỉ đạo của Lương Thị N, là đồng phạm giúp sức nên vai trò của bị cáo P1 thấp hơn bị cáo N.

[8] Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi sử dụng 83/92 tờ hóa đơn GTGT khống mua của các Công ty trên để kê khai, báo cáo thuế, Công ty S đã chủ động xuất toán 83/92 hóa đơn đã sử dụng báo cáo thuế, điều chỉnh kê khai, nộp thuế bổ sung đối với các tờ hóa đơn trên (từ ngày 31/7/2021 đến ngày 30/01/2023) tại Chi cục thuế khu vực Hồ N - A, thừa so với số tiền thuế đã kê khai 3.448.439.526 đồng, được khấu trừ tại kì báo cáo thuế quý IV/2024. Việc điều chỉnh kê khai, nộp thuế bổ sung của Công ty S trước thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế và trước thời điểm cơ quan điều tra phát hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn. Mặc khác, các bị cáo đều có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng thi hành hình phạt tiền. Các bị cáo đã có đơn đề nghị tòa án áp dụng hình phạt tiền. Tội các bị cáo phạm là loại tội phạm về kinh tế, chính vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đảm bảo thu hồi tài sản cho Nhà nước, cũng đủ để giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung, phù hợp với chính sách của pháp luật hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng: 92 tờ hóa đơn GTGT do các Công ty khác xuất cho Công ty S là vật chứng chuyển lưu theo hồ sơ vụ án.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[12] Trong vụ án này còn có đối tượng T2 môi giới mua bán hóa đơn và các công ty mua bán hóa đơn với công ty S, Cơ quan điều tra đã tách ra, thụ lý nguồn tin tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lương Thị N, Trần Thị Trang P1 phạm tội Mua bán trái phép hoá đơn.

Xử phạt:

Lương Thị N 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng sung ngân sách nhà nước. Bị cáo đã nộp đủ 300.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng theo các Biên lai thu tiền số 00001890 ngày 24/6/2025 và Biên lai số 0001892 ngày 24/6/2025 nên không phải nộp nữa.

Trần Thị Trang P1 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng sung ngân sách nhà nước. Bị cáo đã nộp đủ số tiền 200.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng theo các Biên lai thu tiền số 00001891 ngày 24/6/2025 và Biên lai thu tiền số 0001893 ngày 24/6/2025 nên không phải nộp nữa.

Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lương Thị N, Trần Thị Trang P1.

Về xử lý vật chứng: 92 tờ hóa đơn GTGT do các Công ty khác xuất cho Công ty S là vật chứng chuyển lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Lương Thị N, Trần Thị Trang P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 - TANDTC;
  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHР;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hoá đơn

  • Số bản án: 131/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hoá đơn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạt tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger