Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/HS-PT

Ngày: 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phú Thọ.

Ông Nguyễn Ngọc Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 53/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo Trương Văn D và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị hại Võ Quốc T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.

- Bị cáo bị kháng cáo:

  1. Trương Văn D, sinh ngày 01-01-1987 tại tỉnh Đồng Tháp; Quê quán: xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 và bà Hồ Thị T1, sinh năm 1966; Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con út; Vợ tên Nguyễn Thị C, sinh năm 1987, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
  2. Nguyễn Văn P, sinh ngày 10-6-2000 tại tỉnh Đồng Tháp; Quê quán: xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1978 và bà Trương Thị Mỹ H, sinh năm 1980; Anh chị em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ tên Lê Thị Minh T3, sinh năm 2002, có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
  3. Bùi Văn Q, sinh ngày 11-02-2005 tại tỉnh Đồng Tháp; Quê quán: xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn H1, sinh năm 1977 và bà Trịnh Thị H2, sinh năm 1980; Bị cáo là con một; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).

- Bị hại có kháng cáo: Võ Quốc T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp Chánh, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Bùi Thị Mỹ L1 là Luật sư của Công ty L2 – Chi nhánh L3 (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Minh Q1, sinh ngày 01-01-2006 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

- Người làm chứng:

  1. Bùi Văn M, sinh năm 1985 (vắng mặt);
  2. Cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Lê Trung T4, sinh năm 1990 (vắng mặt);
  4. Cư trú: Ấp Chánh, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  5. Trần Văn Q2, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  6. Cư trú: Ấp Thị, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  7. Trương Thị Mỹ H, sinh năm 1980 (vắng mặt);
  8. Lê Thị Minh T3, sinh năm 2002 (vắng mặt);
  9. Hồ Thị T1, sinh năm 1966 (vắng mặt);
  10. Trương Văn S, sinh năm 2007 (vắng mặt);
  11. Hồ Thị N, sinh năm 1968 (vắng mặt);
  12. Nguyễn Thị Diệu H3, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  13. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1959 (vắng mặt);
  14. Cùng cư trú: Ấp L, xã H, huyện T, Long An.

Trong vụ án này, các bị cáo Trương Văn D, Bùi Văn Q và Nguyễn Văn P; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát cũng không có kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn D, ngụ ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An và anh Võ Quốc T ngụ ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An có mâu thuẫn với nhau từ trước trong việc mua bán trâu, bò.

Đến khoảng 08 giờ ngày 21-11-2023, anh Võ Quốc T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 62C-153.71 chở anh Lê Trung T4, anh Bùi Văn M từ tỉnh Long An đến ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để chở trâu, vì trâu để chổ nhà anh T6 (không biết họ). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, anh T chạy xe ô tô tải ngang chợ H4 thuộc xã H, huyện T, tỉnh Long An thì D nhìn thấy. Sau đó, D điện thoại cho Nguyễn Văn P (cháu ruột D) kêu P chạy theo xe ô tô tải của anh T để lấy tiền nợ, còn D thì sẽ chạy đến sau. Sau khi nghe điện thoại xong thì P đi qua nhà Bùi Văn Q (Em họ P) nói “cậu D kêu lên đòi nợ anh T, nếu anh T không trả thì đánh” nên Q đồng ý. Sau đó, P lấy 01 khúc sắt tròn dài 50cm, đường kính 2,5cm, 01 khúc sắt vuông dài 67cm, 01 con dao tự chế, dài khoảng 40-50cm để vào trong cái bao màu vàng rồi kêu Q lấy xe chở lên nhà anh T6. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày P, Q và D cùng chạy xe đến gặp anh T và kêu anh T trả tiền nợ nhưng anh T trả lời “không có nợ tiền”. Lúc này D dùng tay đánh trúng vào người anh T 02-03 cái, tiếp tục ôm anh T và kêu “đánh nó” nên P cầm khúc sắt tròn trên tay phải đánh trúng vào chân phải của anh T 02 cái, làm quỵ xuống; Dư buông anh T ra, còn Q cầm khúc sắt vuông đánh anh T 02 cái trúng vào đầu gối chân trái và vai trái, tiếp tục P cầm dao tự chế trên tay trái quơ từ trên xuống 02 cái trúng vào đầu và mặt gây thương tích. Thấy vậy, anh Bùi Văn M vào can ngăn P và T, sau đó mọi người truy hô Công an đến nên D, P và Q bỏ chạy, anh T được mọi người xung quanh đưa đến Trạm Y tế xã T, huyện T cấp cứu. Do vết thương nặng được chuyển đến Bệnh viện đa khoa Xuyên Á huyện Đ, tỉnh Long An điều trị, đến ngày 01-12-2023 ra viện.

* Vật chứng của vụ án thu giữ:

  • 01 (một) khúc gỗ, chiều dài 78cm; 01 (một) khúc kim loại vuông, chiều dài 67cm; 01 (một) khúc kim loại vuông, chiều dài 105cm; 01 (một) khúc kim loại tròn màu trắng, dài 50cm, đường kính 2,5cm.

Tất cả đã qua sử dụng.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 115/KLTTCT-TTPYĐT ngày 21-02-2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ kết luận đối với Võ Quốc T:

  • 02 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái, mặt trong gối trái, kích thước trung bình, mỗi sẹo 02%;
  • Sẹo vết thương phần mềm má trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 03%;
  • Sẹo vết thương phần mềm mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%;
  • Sẹo mổ mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%;
  • Sẹo mổ mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%;
  • Gãy 1/3 dưới xương trụ trái can liền tốt, trục thẳng, tỷ lệ tổn thương 08%;
  • Gãy 1/3 trên xương chày phải can tốt, trục thẳng, tỷ lệ tổn thương 13%.

Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Võ Quốc T tại thời điểm giám định là 28%.

- Kết luận khác:

  • Sẹo vết thương phần mềm đỉnh trái, mặt trong gối trái, má trái, mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái do vật sắc gây ra.
  • Sẹo mổ do quá trình điều trị.
  • Các tổn thương còn lại do vật tày gây ra.

Tại bản án số 02/2025/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã quyết định:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, Điều 58, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
  2. Tuyên bố các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P, Bùi Văn Q đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Trương Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật Dân sự; buộc các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P, Bùi Văn Q có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Võ Quốc T các khoản chi phí điều trị bệnh, tiền xe đưa rước, tiền bồi dưỡng bệnh, tiền ngày công lao động, tiền tổn thất về tinh thần là 118.270.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng do các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng theo biên lai thu số: 0000266 ngày 12-9-2024, còn lại phải liên đới phải bồi thường là 88.270.000 đồng (T7 mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, bị hại Võ Quốc T kháng cáo yêu cầu huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng; trả hồ sơ điều tra và khởi tố bổ sung đối với Nguyễn Minh Q1, chuyển tội danh từ tội “Cố ý gây thương tích” sang tội “Giết người”; thay đổi biện pháp ngăn chặn từ “cấm đi khỏi nơi cư trú” sang “tạm giam” đối với các bị cáo và xem xét lại phần bồi thường thiệt hại về thu nhập mua bán bò và phải thuê người nuôi bò trong thời gian điều trị thương tích.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét đơn kháng cáo của bị hại Võ Quốc T yêu cầu huỷ án chuyển tội danh thành tội “Giết người”; bỏ lọt tội phạm là Nguyễn Minh Q1; yêu cầu tăng hình phạt tù; đề nghị áp dụng biện giam đối với các bị cáo; tố giác hành vi đe doạ và yêu cầu bồi thường thiệt hại mua bán bò của bị hại, nhận thấy: Phiên toà hình sự phúc thẩm nhiều lần mở xét xử nhưng bị hại nhiều lần vắng mặt, và tại phiên toà hôm nay ngày 24/6/2025 bị hại T tiếp tục vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt, các yêu cầu kháng cáo của bị hại về tội danh nhận thấy rằng: Các bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm là thanh sắc, dao đánh vào chân, đầu gối và vùng đầu bị hại với mục đích là tư thù cá nhân, nhằm gây thương tích cho bị hại chứ không nhằm mục đích tước đoạt mạng sống của bị hại và tại thời điểm xảy ra vụ án không có mặt anh Nguyễn Minh Q1 tại hiện trường, do đó không có căn buộc tội các bị cáo về tội giết người và Nguyễn Minh Q1 với vai trò đồng phạm trong vụ án.

Đối với kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt tù; đề nghị áp dụng biện giam đối với các bị cáo, nhận thấy: Các bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với mức án từ 02-06 năm tù; việc cấp sơ thẩm tuyên các bị cáo với mức hình phạt trong khung điều luật quy định và trong quá trình các bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn đều thực hiện đúng nghĩa vụ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, không phạm tội mới nên không có căn cứ thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với các bị cáo.

Đối với tố giác hành vi sử dụng xe mô tô rượt đuổi bị hại đe doạ gây thương tích tại phiên toà và ủy ban nhân dân phường M, thành phố C, Đồng Tháp: Tất cả các lần các bị cáo đến phiên toà bằng phương tiện xe Bus công cộng (có xuất trình giấy vé xe bus) và cũng không có báo cáo hay kiến nghị khiếu tố nào của cơ quan chức năng phường về hành vi nêu trên. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị hại.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại mua bán bò của bị hại nhận thấy: Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo và bị hại đã thống nhất số tiền cho bị hại Võ Quốc T 186.670.139 đồng, gồm: chi phí điều trị, tiền thuê xe, tiền bồi dưỡng sức khoẻ người bệnh, tiền ngày công lao động, tiền người nuôi bệnh, tiền thuê người coi bò và cắt cỏ, tiền tổn thất tinh thần. Các bị cáo D, P và Q thống nhất bồi thường nhưng theo quy định pháp luật. Các bị cáo D, P và Q đã nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Nhận thấy việc thoả thuận và tự nguyện bồi thường giữa các bên không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội nên công nhận sự tự nguyện trên. Việc bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại mua bán bò nhưng không có cung cấp được thiệt hại cụ thể nên không có căn cứ chấp nhận.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ y án sơ thẩm.

Các bị cáo không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Đối với bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có lý do. Xét thấy những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã rõ ràng và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người này.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào ngày 21-11-2023 các bị cáo D, P, Q cùng thực hiện đánh gây thương tích cho bị hại, với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo D là người giữ vai trò chính, đã đề xướng, lôi kéo, còn bị cáo P rủ rê bị cáo Q đánh gây thương tích cho bị hại T, cụ thể: Bị cáo D dùng tay đánh trúng vào người bị hại T hai đến ba cái, tiếp tục ôm bị hại T để bị cáo P cầm khúc sắt tròn đánh trúng vào chân phải của bị hại T, còn bị cáo Q cầm khúc sắt vuông đánh bị hại T hai cái trúng vào đầu gối chân trái và vai trái, tiếp tục bị cáo P cầm dao tự chế trên tay trái quơ từ trên xuống hai cái trúng vào đầu và mặt gây thương tích làm bị hại tổn thương trên cơ thể tại thời điểm giám định là 28% do hung khí nguy hiểm gây ra.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Các bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã dùng tay, khúc sắt tròn, khúc sắt vuông, dao tự chế là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng tay, khúc sắt tròn, khúc sắt vuông, dao tự chế này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 28%, chứng tỏ việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị hại Võ Quốc T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Trả hồ sơ điều tra và khởi tố bổ sung đối với đối tượng Nguyễn Minh Q1; Xem xét chuyển tội danh từ tội “Cố ý gây thương tích” sang tội “Giết người”; Thay đổi biện pháp ngăn chặn từ cấm đi khỏi nơi cư trú sang tạm giam đối với các bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 21-11-2023, P, Q và D cùng chạy xe đến gặp anh T và kêu anh T trả tiền nợ nhưng anh T trả lời “không có nợ tiền”. Lúc này D dùng tay đánh trúng vào người anh T 02-03 cái, tiếp tục ôm anh T và kêu “đánh nó” nên P cầm khúc sắt tròn trên tay phải đánh trúng vào chân phải của anh T 02 cái, làm quỵ xuống; Dư buông anh T ra, còn Q cầm khúc sắt vuông đánh anh T 02 cái trúng vào đầu gối chân trái và vai trái, tiếp tục P cầm dao tự chế trên tay trái quơ từ trên xuống 02 cái trúng vào đầu và mặt gây thương tích. Thấy vậy, anh Bùi Văn M vào can ngăn P và T, sau đó mọi người truy hô Công an đến nên D, P và Q bỏ chạy, anh T được mọi người xung quanh đưa đến Trạm Y tế xã T, huyện T cấp cứu. Như vậy, tại hiện trường lúc xảy ra vụ việc, chỉ có 03 bị cáo P, Q và D, bị hại T và anh Bùi Văn M. Điều này phù hợp với lời khai của các bị cáo, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án; kết luận giám định Pháp y về thương tích đối với bị hại, phù hợp với cơ chế hình thành vết thương của các bị hại, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định chính các bị cáo P, Q và D đã gây thương tích cho bị hại, ngoài ra không còn người nào khác gây thương tích cho bị hại T. Tại thời điểm xảy ra vụ án không có mặt anh Nguyễn Minh Q1 tại hiện trường. Các bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm là thanh sắc, dao để đánh, chém vào chân, đầu gối và vùng đầu bị hại với mục đích là tư thù cá nhân, nhằm gây thương tích cho bị hại chứ không nhằm mục đích tước đoạt mạng sống của bị hại. Hành vi của các bị cáo D, P và Q đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, không có căn buộc tội các bị cáo về tội giết người và buộc anh Nguyễn Minh Q1 với vai trò đồng phạm trong vụ án.

Bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt tù đối với các bị cáo nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên không chấp nhận yêu cầu này của bị hại.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại mua bán bò của bị hại nhận thấy: Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo và bị hại đã thống nhất số tiền bồi thường cho bị hại gồm chi phí điều trị, tiền thuê xe, tiền bồi dưỡng sức khoẻ người bệnh, tiền ngày công lao động, tiền người nuôi bệnh, tiền thuê người coi bò và cắt cỏ, tiền tổn thất tinh thần là 186.670.139 đồng. Các bị cáo D, P và Q thống nhất bồi thường nhưng theo quy định pháp luật và đã nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Xét thấy việc thoả thuận và tự nguyện bồi thường giữa các bên không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội nên công nhận sự tự nguyện trên. Việc bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại mua bán bò nhưng không có cung cấp được thiệt hại cụ thể nên không có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp tạm giam đối với các bị cáo của bị hại, xét thấy trong quá trình các bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, các bị cáo đều thực hiện đúng nghĩa vụ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, không có vi phạm pháp luật cũng không phạm tội mới nên không có căn cứ thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với các bị cáo. Bị hại cho rằng các bị cáo có hành vi uy hiếp, đe doạ bị hại nhưng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị hại có đơn tố giác hành vi của một người thanh niên hơn 20 tuổi đi cùng nhóm các bị cáo sử dụng xe mô tô rượt đuổi theo xe bị hại quay phim chụp ảnh bị hại, có khả năng các bị cáo có hành vi xúi giục, chỉ đạo người khác tấn công bị hại khi dự phiên toà. Tuy nhiên, bị hại cũng không có chứng cứ gì để chứng minh cho việc tố cáo nêu trên. Mặt khác, tất cả các lần các bị cáo đến phiên toà đều chỉ có 03 người, đều đi bằng phương tiện xe Bus công cộng (có xuất trình giấy vé xe bus) và cho đến nay cũng không có báo cáo hay kiến nghị khiếu tố nào của cơ quan chức năng về hành vi nêu trên. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị hại.

Việc bị hại Võ Quốc T cho rằng tỷ lệ thương tật của bị hại theo kết luận giám định số 115/KLTTCT-TTPYĐT ngày 21-02-2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ đối với bị hại là chưa phù hợp với những thương tổn mà bị hại phải gánh chịu, yêu cầu được giám định lại. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, bị hại được thông báo về kết luận giám định tỷ lệ thương tích cơ thể của mình nhưng bị hại không khiếu nại hoặc có ý kiến gì về Bản kết luận giám định. Trong giai đoạn xét xử, bị hại yêu cầu giám định lại nhưng không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh Bản kết luận giám định số 115/KLTTCT-TTPYĐT ngày 21-02-2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ là không khách quan, không chính xác theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu giám định lại thương tích của bị hại T đồng thời xác định Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: số 115/KLTTCT-TTPYĐT ngày 21-02-2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ đối với bị hại là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[6] Các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định; Bị hại Võ Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Võ Quốc T. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q.

  3. Tuyên bố các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trương Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật Dân sự;
  6. Buộc các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P, Bùi Văn Q có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Võ Quốc T các khoản chi phí điều trị bệnh, tiền xe đưa rước, tiền bồi dưỡng bệnh, tiền ngày công lao động, tiền tổn thất về tinh thần là 118.270.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng do các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thían dân sự huyện T theo biên lai thu số: 0000266 ngày 12-9-2024, còn lại phải liên đới phải bồi thường là 88.270.000 đồng (T7 mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  8. Các bị cáo Trương Văn D, Nguyễn Văn P và Bùi Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Bị hại Võ Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  9. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - TAND huyện Tân Hồng (6);
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - CQCSĐT CA tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng TTKT-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; Bị hại; NBC;
  • - Lưu VT, HSVA (5), (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 131/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger