|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 131/2025/HNGĐ-ST Ngày 16-06-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Phạm Mạnh Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 16 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 129/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Đình T, sinh năm 1995; nơi đăng ký thường trú: Số B đường H, tổ F, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: F, 22880 W, Cộng hòa Liên Bang Đ; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh X, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ F, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/04/2025, nguyên đơn anh Trần Đình T trình bày:
Anh Trần Đình T và chị Trần Thị Thanh X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/4/2021 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung. Ngày 02/8/2024, anh T sang Cộng hòa Liên bang Đ làm việc và sinh sống, vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh T yêu cầu ly hôn chị X.
Về con chung: Anh T và chị X có 01 con chung là Trần Ngọc Trâm A, sinh ngày 03/8/2021. Hiện nay, cháu Trâm A đang ở với chị X. Ly hôn, anh T đề nghị giao cháu Trâm A cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T và chị X tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 13/5/2025 bị đơn chị Trần Thị Thanh X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn và mâu thuẫn của vợ chồng như trình bày của anh T. Từ ngày 02/8/2024, anh T sang Cộng hòa Liên bang Đ làm việc và sinh sống, vợ chồng không còn liên lạc và đã sống ly thân cho đến nay. Chị X cũng xét thấy không còn tình cảm với anh T nên đồng ý ly hôn.
Chị X và anh T có 01 con chung như trình bày của anh T. Chị X đồng ý với yêu cầu nuôi con của anh T.
Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn hiện đang ở Cộng hòa Liên bang Đ; bị đơn đang cư trú tại Hải Phòng. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
· Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đình T và chị Trần Thị Thanh X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Anh T và chị X đều xác nhận vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm, lối sống, hiện đã sống ly thân, không còn quan tâm trách nhiệm, không còn tình cảm vợ chồng. Anh T yêu cầu ly hôn, chị X đồng ý. Xét hôn nhân của anh T và chị X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.
[4] Về con chung: Anh T và chị X xác nhận có 01 con chung là Trần Ngọc Trâm A, sinh ngày 03/8/2021. Xét việc thoả thuận nuôi con của anh T và chị X là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận. Cần giao con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị X không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về tài sản chung: Anh T và chị X không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, các điều 273, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X1: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đình T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đình T được ly hôn chị Trần Thị Thanh X.
- Giao con chung là Trần Ngọc Trâm A, sinh ngày 03/8/2021 cho chị Trần Thị Thanh X trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Đình T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001283 ngày 12/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
5. Về quyền kháng cáo:
Anh Trần Đình T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Chị Trần Thị Thanh X có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Mạnh Hùng Nguyễn Thị Luyến |
Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
Bản án số 131/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 131/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
