Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/10/2025

Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THANH HÓA

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thái Dìn; Bà Trịnh Thị Khanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Nhung - Thư ký TAND khu vực 12 – Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Dương Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 10 năm 2025, Tại Hội trường xét xử TAND khu vực 12 – Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 46/2025/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2025/QĐST – HNGĐ ngày 29/9/2025.

Giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hà Phương L - Sinh năm 1996
  • ĐKHKTT: Phố C, xã B, tỉnh Thanh Hóa
  • Vắng mặt tại phiên tòa - Có đơn xin vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Viết T - Sinh năm 1989
  • ĐKHKTT: Phố D, xã B, tỉnh Thanh Hóa
  • Vắng mặt tại phiên tòa (Đã được tống đạt hợp lệ lần hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Phương L trình bày: Chị và anh Hoàng Viết T tự do tìm hiểu và tự nguyện cưới vào năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện B (Nay là UBND xã B) ngày 04/08/2020. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến giữa năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, nên thường xuyên xảy ra cãi vã nhau... Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng vợ chồng không hóa giải được mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2025 cho đến nay. Nay chị xét thấy cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, chị không còn tình cảm với anh T và đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là cháu Hoàng Linh Đ, sinh ngày 31/07/2021. Chị ly có nguyện vọng muốn trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật 1.725.000₫ vì anh T là lao động tự do thu nhập không ổn định.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và quá trình làm việc tại Toà án anh T trình bày: Anh T và chị Hà Phương L tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn như chị L trình bày là đúng. Anh và chị L đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện B (Nay là UBND xã B). Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2025 thì mâu thuẫn do anh T đi chơi thể thao nên vợ ghen và vợ chồng cãi nhau. Đến ngày 28/7/2025 thì chị L và con gái chuyển ra thuê nhà bên ngoài để ở. Sau khi chị L chuyển ra ngoài ở anh T vẫn thường xuyên đi lại thăm nom, chăm sóc hai mẹ con. Hiện nay anh T vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, anh T mong muốn vợ chồng chung sống để nuôi dạy con chung.

Về con chung: Anh T và chị L có 01 con chung là cháu Hoàng Linh Đ, sinh ngày 31/7/2021. Hiện nay cháu đang ở cùng với chị L nếu phải ly hôn anh T để con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng nhưng chị L phải đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con. Anh T tự nguyện cấp dưỡng theo quy định của pháp luật hiện nay là 1.725.000đ vì anh T là lao động tự do thu nhập không ổn định.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thanh Hoá: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc áp dụng pháp luật: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 BLTTDS. Căn cứ các Điều: 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị: Xử cho chị L được ly hôn anh T; Giao cháu Hoàng Linh Đ, sinh ngày 31/7/2021 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh T cấp dưỡng nuôi con 1.725.000đ mỗi tháng.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hà Phương L làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn là anh Hoàng Viết T có hộ khẩu thường trú tại: Phố D, xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về “Ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Về thủ tục xét xử vắng mặt: Chị Hà Phương L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Viết T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 227 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
  4. Về Hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình. Trong quá trình chung sống chị L và anh T có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nên hay cãi vã nhau mâu thuẫn trầm trọng và đã phải sống ly thân. Quá trình hòa giải tại Tòa án chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn với anh T. Anh T không đồng ý ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án anh T không có biện pháp gì để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác hai lần Tòa án triệu tập các bên để tiến hành hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy giữa chị L và anh T mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị L được ly hôn anh T là phù hợp.
  5. Về con chung: Công nhận chị L và anh T có 01 con chung là cháu Hoàng Linh Đ, sinh ngày 31/7/2021. Quá trình giải quyết vụ án chị L và anh T đã thống nhất giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L đồng ý với ý kiến của anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.725.000đ.

Vì vậy giao cháu Hoàng Linh Đ cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp. Anh T cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng 1.725.000đ/tháng kể từ tháng 10 năm 2025 cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

  1. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh T phải án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 và Điều 273; Điều 238 BLTTDS; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Phương L:
  2. Chị Hà Phương L được ly hôn anh Hoàng Viết T.

  3. Về con chung: Giao cháu Hoàng Linh Đ, sinh ngày 31/7/2021 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng 1.725.000đ/tháng, thời gian tính từ tháng 10 năm 2025 cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
  4. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

    Vì quyền lợi của con, các bên đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  5. Về tài sản chung: Chị Hà Phương L và anh Hoàng Viết T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu số 0007803 ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Thanh Hoá. Anh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Khu vự 12 – Thanh Hoá;
  • - UBND xã Bá Thước;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2025/HNGĐ-ST ngày 10/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THANH HOÁ về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 131/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Phương L - Hoàng Viết T, ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger