|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 131/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 6 - 2025.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Ông La Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị H, sinh năm 1981 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Q, X, T, Thanh Hóa.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 05 tháng 3 năm 2025 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Hà Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Đăng Q chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Ông bà đã ly thân nhau từ năm 2023 cho đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên bà xin ly hôn với ông Nguyễn Đăng Q.
Về con chung: Nguyễn Hà Ngọc T, sinh ngày 26/7/2009. Hiện con đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà xin được quyền nuôi con, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Đăng Q trình bày: Ông xác nhận lời trình bày của bà H về thời gian chung, điều kiện kết hôn, thời gian ly thân là đúng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn. Ông bà ly thân nhau từ tháng 10/2023 cho đến nay do ông chấp hành hình phạt tù. Nay bà H xin ly hôn, ông không đồng ý.
Về con chung: Ông bà chung sống có 01 con chung là Nguyễn Hà Ngọc T, sinh ngày 26/7/2009. Hiện con đang sống với bà H. Trước đây, sống chung với ông và ông bà nội. Do khi ông đi chấp hành hình phạt tù nên con mới sống với bà H. Khi ly hôn, ông xin được quyền nuôi con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục nhưng kết quả hòa giải đoàn tụ không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Hà Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đăng Q, ông Q hiện có hộ khẩu thường trú tại khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Hà Thị H và bị đơn là ông Nguyễn Đăng Q đều có đơn xin vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị H và ông Nguyễn Đăng Q chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An năm 2009 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, bà H cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với ông Q, ông có trình bày ý kiến là không đồng ý ly hôn với bà H. Tuy nhiên, ông không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, trong khi đó, bà H trình bày ông bà đã mâu thuẫn nhau từ năm 2023 cho đến nay. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Q là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về con chung và cấp dưỡng: Cả bà H và ông Q đều thống nhất, ông bà có con chung Nguyễn Hà Ngọc T, sinh ngày 26/7/2009. Khi ly hôn, cả bà H và ông Q đều xin được quyền nuôi con, không bên nào yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Xét thấy, từ khi bà H và ông Q xa nhau đến nay, bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Cháu T là con gái, cần có sự chăm sóc của người mẹ. Bên cạnh đó, cháu T trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng sống với bà H. Đồng thời, hiện nay, ông Q đang chấp hành hình phạt tù, không thể trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao con chung cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ba Hoài không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến.
[5]. Về tài sản chung: Bà H và ông Q thống nhất trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.
[6]. Về nợ chung: Bà H và ông Q thống nhất trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.
[7]. Từ những nhận định như trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận.
[8]. Về án phí: Bà Hà Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị H đối với ông Nguyễn Đăng Q về việc “Ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đăng Q.
- - Về con chung: Bà Hà Thị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hà Ngọc T, sinh ngày 26/7/2009. Ông Nguyễn Đăng Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì bà H không yêu cầu.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung: Bà H và ông Q thống nhất trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
- - Về nợ chung: Bà H và ông Q thống nhất trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
- Về án phí: Bà Hà Thị H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng chẳn) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0010197 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 131/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 131/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thị H ly hôn Nguyễn Đăng Q
