|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 131/2025/DSPT
Ngày: 25 - 3 - 2025
V/v “tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan |
| Các Thẩm phán: | Bà Hồ Thị Tuyết Phương; |
| Bà Phan Thị Tuyết Mai. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 601/2024/TLPT- DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS – ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ có bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Mai Ngọc H kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 18/2024/QĐPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1.1 Ông Đàm Văn N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
- 1.2 Bà Dương Thị Thùy D, sinh năm 1991; địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1960; địa chỉ: C T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn:
- 2.1 Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; (vắng mặt)
- 2. Bà Mai Ngọc H, sinh năm 1969; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền của các bị đơn ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1956; địa chỉ: 1 đường L, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn Chanh L, sinh năm 1985 là Luật sư thuộc Văn phòng L1; địa chỉ: Chung cư E, tầng L, khu vực 9, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T, bà Mai Ngọc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đại diện ủy quyền của nguyên đơn – ông Võ Hồ Thế P trình bày: Giữa vợ chồng ông Đàm Văn N, bà Dương Thị Thùy D và vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Mai Ngọc H có mối quan hệ quen biết. Ông T, bà H là bác sui của mẹ vợ ông N, bà D. Vợ chồng ông T, bà H có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cần nguồn vốn kinh doanh để kiếm lời chỉ tiêu cho gia đình nên có hỏi mượn của vợ chồng ông bà số tiền 549.600.000 đồng. Khi mượn tiền có lập thành 02 giấy xác nhận mượn tiền vào ngày 27/8/2021, có đầy đủ chữ ký của vợ chồng ông T, bà H. Ông T, bà H hẹn khi nào vợ chồng ông N, bà D cần lấy tiền lại thì cho vợ chồng ông bà biết sẽ trả lại đầy đủ ngay.
Khoảng tháng 02/2022, vợ chồng ông N, bà D cần tiền nên đã nhiều làn yêu cầu vợ chồng ông T, bà H trả đủ tiền mượn cho vợ chồng ông N, bà D nhưng hứa hẹn nhiều lần không trả.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 549.600.000 đồng nợ gốc, cùng với tiền lãi từ ngày 13/12/2023 đến ngày 18/12/2023 với lãi suất 0,83%/tháng là 760.280 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi trả dứt nợ.
Nguyên đơn thống nhất kết luận giám định chữ ký số 3977/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tại biên bản hòa giải ngày 08/8/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 549.600.000 đồng và lãi phát sinh đến ngày 08/8/2024 là 35.885.216 đồng, tổng cộng là 585.485.216 đồng tính đến ngày 08/8/2024.
Theo bị đơn – ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H trình bày: Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ năm 2019 đến năm 2020, phía bị đơn có nhiều lần vay tiền của nguyên đơn, tổng cộng 100.000.000 đồng. Từ ngày 27/10/2019, bị đơn trả lãi cho nguyên đơn là 3%/tháng, đến ngày 11/5/2020 khi nguyên đơn và bị đơn chốt số nợ gốc là 100.000.000 đồng thì bị đơn trả lãi cho nguyên đơn 9.000.000 đồng/tháng cho đến ngày 16/7/2021 thì ngưng trả lãi do không còn khả năng thanh toán. Ông T và bà H không có ký tên vào 02 “Giấy xác nhận mượn tiền” ngày 27/8/2021. Ông T và bà H chỉ đồng ý trả cho ông N, bà D số tiền vốn là 100.000.000 đồng. Trong trường hợp nguyên đơn và bị đơn thỏa
thuận được việc trả tiền thì bị đơn đồng ý trả thêm số tiền lãi là 130.000.000 đồng, tổng cộng 230.000.000 đồng, còn không thỏa thuận được thì bị đơn không đồng ý trả tiền lãi.
Bị đơn không thống nhất kết luận giám định chữ ký số 3977/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.
Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nên Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đưa vụ án ra xét xử công khai
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS – ST ngày 24 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Thùy D và ông Đàm Văn N.
Khi án có hiệu lực pháp luật, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H phải trả cho nguyên đơn bà Dương Thị Thùy D và ông Đàm Văn N tổng số tiền là 592.327.736 đồng tính đến ngày 24/9/2024, trong đó: nợ gốc là 549.600.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 24/9/2024 là 42.727.736 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo và thời hiệu kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/10/2024 ông T, bà H cùng có đơn kháng cáo. Theo đơn kháng cáo ông T, bà H2 cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên số tiền nợ gốc 549.600.000đồng cùng với lãi suất. Đồng thời, đại diện bị đơn thừa nhận chữ ký và chữ viết tên trong 02 Giấy xác nhận tiền ngày 27/8/2023 là của bị đơn, tuy nhiên khi nguyên đơn đưa giấy cho bị đơn ký tên thì mặt trước là giấy trắng bị đơn ký nhưng không biết nội dung sau đó nguyên đơn ghi vào là số nợ là 549.600.000 đồng. Do là chỗ quen biết nên bị đơn tin tưởng nguyên đơn ghi số nợ đúng thực tế. Do bị đơn chỉ còn nợ 100.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi 130.000.000 đồng cho nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hình thức kháng cáo: Ngày 04/10/2024 bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp tiền án phí phúc thẩm nên được xem là hợp lệ.
Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ vào 02 “Giấy xác nhận mượn tiền” ngày 27/08/2021 giữa ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H có vay của ông Đàm Văn N 02 lần với số tiền 509.600.000 đồng và 40.000.000 đồng. Tổng cộng là 549.600.000 đồng ông T bà H có ký và viết họ tên xác nhận vào giấy mượn tiền. Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H không thừa nhận có vay nợ và ký tên vào giấy xác nhận mượn tiền.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 3977/KL-KTHS ngày 16/07/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C kết luận:
“1. Chữ ký đứng tên Nguyễn Văn T, chữ viết họ tên Nguyễn Văn T dưới mục “Họ và tên” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Văn T trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4, M6, M7 là do cùng một người ký, viết ra”.
“2. Chữ ký đứng tên Mai Ngọc H, chữ viết họ tên Mai Ngọc H dưới mục “Họ và tên” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Mai Ngọc H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6, M8 là do cùng một người ký, viết ra”.
Bị đơn trình bày không có ký vào các “Giấy xác nhận mượn tiền” chỉ vay của ông Đàm Văn N 100.000.000 đồng với lãi suất là 3%/tháng và có đóng lãi, nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.
Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của ông Đàm Văn N và bà Dương Thị Thùy D đã cho ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H vay với số tiền gốc 549.600.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với lãi suất nhận thấy: 02 “Giấy xác nhận mượn tiền” cùng ngày 27/08/2021 không có ghi nhận lãi suất, không có nội dung thỏa thuận về lãi suất. Vì vậy, lãi suất được tính là 10%/năm, được tính từ ngày tranh chấp và có yêu cầu của nguyên đơn được tính từ ngày khởi kiện 13/12/2023 đến ngày 24/09/2024 là 09 tháng 11 ngày = 549.600.000 đồng x 0,83% x 09 tháng 11 ngày = 42.727.736 đồng. Do đó, xét yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vay bao gồm gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 549.600.000 đồng + 42.727.736 đồng = 592.327.736 đồng là đúng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo.
Từ những phân tích như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Nguyễn Văn T, bà Mai Ngọc H: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của các bị đơn xác định, bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên số tiền nợ gốc 549.600.000 đồng cùng với lãi suất. Bị đơn chỉ thừa nhận còn nợ nguyên đưn số tiền 100.000.000 đồng và đồng ý trả thêm 130.000.000 đồng tiền lãi;
[2] Nhận thấy, theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 549.600.000 đồng nợ gốc, cùng với tiền lãi từ ngày 13/12/2023 đến ngày 18/12/2023 với lãi suất 0,83%/tháng là 760.280 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi trả dứt nợ. Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn cung cấp 02 “Giấy xác nhận mượn tiền” ngày 27/8/2021, thể hiện ông Nguyễn Văn T, bà Mai Ngọc H xác nhận có mượn số tiền 509.600.000 đồng và 40.000.000 đồng của ông Đàm Văn N và bà Dương Thị T2. Tổng số tiền qua 02 giấy xác nhận này là 549.600.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện bị đơn thừa nhận bị đơn có mối quan hệ vay tiền với nguyên đơn. Đồng thời, chữ ký, chữ viết trong 02 giấy xác nhận nợ nguyên đơn cung cấp cũng là của bị đơn. Đại diện bị đơn cho rằng khi nguyên đơn đưa giấy xác nhận nợ cho bị đơn ký tên thì mặt trước là giấy trắng bị đơn ký nhưng không biết nội dung sau đó nguyên đơn ghi vào là số nợ là 549.600.000 đồng. Do là chỗ quen biết nên bị đơn tin tưởng nguyên đơn ghi số nợ đúng thực tế. Phía nguyên đơn không thừa
nhận có việc đưa giấy trắng cho bị đơn ký trước và bị đơn cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho trình bày này nên lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[2.1] Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày, căn cứ vào chứng cứ là tờ giấy tập có ghi các ngày tháng năm và số tiền tiền tương ứng tại bút lục số 73 thì tổng số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn chỉ còn 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, chứng cứ này mặc dù có chữ ký của nguyên đơn – ông Đàm Văn N nhưng người có tên trong giấy này là “Bà S”, chưa có xác nhận nào có giá trị pháp lý chứng minh “Bà S” với bị đơn là một. Mặt khác, thời gian thể hiện trong giấy này là năm 2019, năm 2020 trong khi 02 giấy xác nhận nợ tiền ngày 27/8/2021. Ngoài ra, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn còn cho rằng số tiền trong 02 giấy xác nhận nợ là bao gồm cả nợ gốc 100.000.000 đồng và nợ lãi tính từ thời gian vay tiền cho đến khi làm giấy xác nhận nợ nhưng đây chỉ là suy luận của luật sư, chưa có chứng cứ gì chứng minh cho trình bày này nên không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Từ những cơ sở trên, có căn cứ để xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 549.600.000đồng theo 02 “Giấy xác nhận mượn tiền” ngày 27/8/202. Bị đơn chưa chứng minh đã trả được số tiền này nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ là có cở sở chấp nhận;
[3] Đối với yêu cầu tính lãi, nhận thấy nội dung 02 “Giấy xác nhận mượn tiền” ngày 27/8/2021 cho thấy, việc mượn tiền của bị đơn với nguyên đơn không có thỏa thuận lãi suất cũng không xác định thời hạn trả tiền nên đây là loại Hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi được quy định tại khoản 1 Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với loại hợp đồng này thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý. Sau thời hạn báo trước mà các bên không thực hiện nghĩa vụ thì sẽ vi phạm nghĩa vụ kể từ thời điểm đó. Tại phiên tòa, cả đại diện nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận trước khi nguyên đơn khởi kiện thì nguyên đơn đã có thông báo trước cho bị đơn về việc trả nợ, bị đơn biết nhưng không đồng ý với số nợ như nguyên đơn yêu cầu nên mới phát sinh tranh chấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời gian vi phạm nghĩa vụ và phải chịu lãi của bị đơn được tính từ ngày nguyên đơn khởi kiện 12/12/2023 là có cơ sở;
[3.1] Về mức lãi suất, theo quy định đối với Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc. Do đó, theo quy định này thì mức lãi suất tương ứng là 10%/năm. Như vậy tiền lãi được tính như sau từ 13/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/09/2024 là 09 tháng 11 ngày, số tiền tương ứng là: 549.600.000 đồng x 0,83% x 09 tháng 11 ngày = 42.727.736 đồng.
[3.2] Tổng số tiền nợ gốc và lãi mà bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn là 549.600.000đồng + 42.727.736 đồng = 592.327.736 đồng.
[3.3] Từ những nhận định trên cho thấy, Bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc và lãi 592.327.736 đồng là có căn cứ nên giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng bị đơn phải chịu. Bị đơn được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng thành án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Nguyễn Văn T, bà Mai Ngọc H.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS – ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Thùy D và ông Đàm Văn N.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Mai Ngọc H phải trả cho nguyên đơn bà Dương Thị Thùy D và ông Đàm Văn N tổng số tiền là 592.327.736 đồng (năm trăm chín mươi hai triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi sáu đồng) tính đến ngày 24/9/2024, trong đó: nợ gốc là 549.600.000 đồng (năm trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) và lãi phát sinh tính đến ngày 24/9/2024 là 42.727.736 đồng (bốn mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi sáu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Ngọc H và ông Nguyễn Văn T phải nộp 27.693.000 đồng (Hai mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn đồng). Bà Dương Thị Thùy D và ông Đàm Văn N được nhận lại 13.007.000 đồng (Mười ba triệu không trăm lẻ bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu số 0006092 ngày 18/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu. Bị đơn được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006505 ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 131/2025/DSPT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 131/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nhứt - Tùng - T/c HĐ vay tài sản
