|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2025/DS-PT Ngày: 04/3/2025 V/v: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Thẩm phán:
Ông Phan Quyết Thắng;
Ông Cao Anh Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04/03/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 477/2024/DS-PT ngày 14 tháng 11 năm 2024, về việc: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm.
Do Bản án sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 588/2024/QĐ-PT ngày 25/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐHPT-PT ngày 16/01/2024; của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Hữu M, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Số C L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh M1 (Hợp đồng ủy quyền số công chứng 004267 ngày 06/9/2022); Người được ủy quyền lại: Bà Lưu Thị N, bà Trần Thị Đông B (Hợp đồng ủy quyền SCC 000480 ngày 15/03/2024).
Bị đơn: Tổng công ty B1; Trụ sở: Số G phố L, phường P, quận H, Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng T - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thu T1, ông Phùng Duy T2, ông Phan D (Giấy ủy quyền số 1558/UQ
BHBV ngày 03/3/2025).
– Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Ô; Địa chỉ: Số E Quốc lộ A, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy H - Giám đốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Ngày 19/3/2019, ông Vũ Hữu M và Tổng Công ty B1 ký kết hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 cho xe ôtô Huyndai Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88 có số khung H7HP8U060529, số máy D4BH8002843, sản xuất năm 2008, hiệu lực từ 08h00 phút ngày 19/3/2019 đến 23h59 phút ngày 18/3/2020; giá trị ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 tại thời điểm ký kết hợp đồng là 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng. Sau khi ký kết hợp đồng, ông Vũ Hữu M đã thanh toán phí bảo hiểm cho Tổng công ty B1 theo hóa đơn hợp đồng bảo hiểm là 7.508.400 đồng (Bảy triệu, năm trăm linh tám nghìn, bốn trăm đồng).
Vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 14/4/2019 tại Chi nhánh Công ty TNHH Ô (sau đây gọi tắt là “One Plus A”); Địa chỉ: Số G N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị sửa chữa ôtô có liên kết với Tổng công ty B1) đã xảy ra vụ cháy xưởng sửa chữa ô tô gây thiệt hại nhiều tài sản, trong đó có xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 của ông Vũ Hữu M đang được sửa chữa bảo hiểm tại O Plus Auto theo hướng dẫn của Tổng công ty B2.
Hậu quả: Vụ cháy đã làm xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 thuộc sở hữu của ông Vũ Hữu M bị tổn thất toàn bộ, không thể sửa chữa, phục hồi. Tại Kết luận định giá tài sản số 217/KLĐG - HĐĐGTS ngày 07/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân Quận B3, thành phố Hồ Chí Minh về phần tài sản định giá được đối với xe ôtô Huyndai Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88, trị giá 350.000.000 (Ba trăm, năm mươi triệu) đồng.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Vũ Hữu M đã thông báo và tiến hành thủ tục yêu cầu Tổng công ty B1 thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm. Tuy nhiên, từ khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (ngày 14/4/2019) đến nay, ông M vẫn chưa được giải quyết thanh toán bồi thường bảo hiểm vật chất đối với xe ôtô 51F-736.88 theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Đây là hành vi chối bỏ trách nhiệm đền bù thiệt hại tài sản đã tham gia bảo hiểm của khách hàng tại Tổng công ty B1. Ngày 25/11/2020, ông M nhận được công văn số 6378/BHBV-GĐBT XCG của Tổng công ty B1 thông báo về việc từ chối bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với xe ôtô H1 biển kiểm soát 51F-736.88, với lý do không thuộc phạm vi bồi thường bảo hiểm.
Ông Vũ Hữu M đã nhiều lần liên hệ trao đổi trực tiếp, gửi công văn yêu cầu bồi thường đến Tổng Công ty B1 nhưng đều không có kết quả.
Căn cứ: điểm 1.2 khoản 1 Điều 10 của Quy tắc bảo hiểm vật chất xe ô tô ban
hành kèm theo Quyết định số 686/QĐ - BHBV ngày 05/02/2021; Kết luận giám định nguyên nhân cháy số 2528 ngày 30/5/2019 của V1; khoản 1 khoản 2 Điều 31 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022; khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Do vậy, ông Vũ Hữu M đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc: Tổng Công ty B1 phải đền bù toàn bộ thiệt hại vật chất đối với xe ôtô H1 biển kiểm soát 51F-736.88 đã xảy ra sự kiện bảo hiểm cháy nổ toàn bộ vào ngày 14/4/2019 tại Chi nhánh Công ty TNHH Ô, là 350.000.000 (Ba trăm, năm mươi triệu) đồng, theo Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/3/2019 mà hai bên đã ký kết.
Tại Đơn yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện ngày 20/03/2024, ông Vũ Hữu M yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc: Tổng công ty B1 phải thanh toán trả cho ông Vũ Hữu M số tiền lãi chậm trả đối với số tiền bồi thường thiệt hại toàn bộ của xe ôtô H Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88 kể từ ngày 25/11/2020 tạm tính đến hết ngày 25/03/2024 với mức lãi suất 10%/năm là: 116.666.000”.
Tổng số tiền mà ông Vũ Hữu M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Tổng Công ty B1 phải trả theo Đơn khởi kiện và Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện (Tạm tính đến ngày 25/03/2024) là 466.666.000 (Bốn trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, ông Vũ Hữu M không có yêu cầu nào khác.
Tại bản tự khai và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án, bị đơn - Tổng công ty B1 do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Vũ Hữu M tham gia bảo hiểm vật chất xe ô tô đối với xe ô tô BKS: 51F - 736.88 tại Công ty B1 (Công ty T3 của Tổng công ty B1) theo Đơn bảo hiểm số 2736641, thời hạn bảo hiểm từ ngày 19/03/2019 đến ngày 18/03/2020, số tiền bảo hiểm 350.000.000 đồng. Căn cứ Đơn bảo hiểm thì các bên thống nhất áp dụng Quy tắc bảo hiểm vật chất ô tô ban hành kèm theo Quyết định số: 9998/QĐ-BHBV ngày 29/11/2018 của Tổng Công ty B1 (Sau đây gọi tắt là “Quy tắc bảo hiểm 9998”). Sau khi ký kết hợp đồng, ông Vũ Hữu M đã thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm cho Tổng công ty B1.
Vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 14/4/2019 tại Chi nhánh của Công ty TNHH Ô; có địa chỉ tại: Số G N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra vụ cháy xưởng sửa chữa ô tô gây thiệt hại nhiều tài sản, trong đó có xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 của ông Vũ Hữu M đang được sửa chữa. Hậu quả: Vụ cháy đã làm xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 thuộc sở hữu của ông Vũ Hữu M bị hư hỏng. Tại Kết luận định giá tài sản số 217/KLĐG - HĐĐGTS ngày 07/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân Quận B3, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện: xe ôtô Huyndai Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88, trị giá 350.000.000 (Ba trăm, năm mươi triệu) đồng.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Vũ Hữu M đã liên hệ với Tổng Công ty B1 như gửi Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường. Tổng công ty B1 đã tiến hành xác minh, giám định.
Ngày 25/11/2020, Tổng công ty B1 đã có Công văn số 6378 về việc từ chối bảo hiểm với lý do: Tổn thất đối với xe ô tô này là phát sinh trong quá trình sửa chữa tại xưởng, thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm ký ngày 19/3/2019; Theo quy định tại khoản 10 Điều 11 Quy tắc bảo hiểm 9998: “Loại trừ bảo hiểm trong các trường hợp: ... Hao mòn, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá, hỏng hóc do khuyết tật hoặc tổn thất thêm do sửa chữa, trong quá trình sửa chữa (bao gồm chạy thử)”. Như vậy, theo nội dung điều khoản trích dẫn nêu trên, việc loại trừ bảo hiểm sẽ được áp dụng trong trường hợp: (i) tổn thất phát sinh thêm do sửa chữa; (ii) tổn thất phát sinh thêm trong quá trình sửa chữa (gồm cả chạy thử).
Do vậy, Tổng công ty B1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Hữu M.
Đối với yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện của ông Vũ Hữu M về việc, buộc “Tổng công ty B1 phải thanh toán trả cho ông Vũ Hữu M số tiền lãi chậm trả đối với số tiền bồi thường thiệt hại toàn bộ của xe ôtô H Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88 kể từ ngày 25/11/2020 tạm tính đến hết ngày 25/03/2024 với mức lãi suất 10%/năm là: 116.666.000”, Tổng Công ty B1 không đồng ý.
Quan điểm, yêu cầu của Tổng công ty B1 như sau:
Tổng Công ty B1 không đồng ý bồi thường bảo hiểm cho ông Vũ Hữu M số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 mà hai bên đã ký kết.
Tổng công ty B1 không đồng ý thanh toán cho ông Vũ Hữu M tiền lãi chậm trả đối với số tiền bồi thường thiệt hại toàn bộ của xe ôtô H1 biển kiểm soát 51F-736.88 là 116.666.000 (Một trăm mười sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện của ông Vũ Hữu M.
Trường hợp Tòa án đưa ra phán quyết buộc Tổng Công ty B1 phải bồi thường cho ông Vũ Hữu M số tiền 350.000.000 đồng thì Tổng Công ty B1 kính đề nghị Tòa án tuyên:
- - Buộc ông Vũ Hữu M phải chuyển giao cho Tổng công ty B1 quyền yêu cầu người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm (Công ty TNHH Ô) bồi hoàn cho Tổng Công ty B1 toàn bộ số tiền mà Tòa án đã phán quyết buộc Tổng công ty B1 phải bồi thường cho ông Vũ Hữu M, cung cấp cho Tổng công ty B1 các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc khởi kiện đòi người thứ ba và hợp tác chặt chẽ với Tổng công ty B1 trong việc đòi người thứ ba;
- - Buộc người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm (Công ty TNHH Ô) phải bồi hoàn cho Tổng công ty B1 toàn bộ số tiền mà Tòa án đã phán
quyết buộc Tổng công ty B1 phải bồi thường cho ông Vũ Hữu M liên quan đến vụ tổn thất Xe ô tô BKS 51F – 736.88 (thuộc sở hữu của Ông Vũ Hữu M) tại X sửa chữa xe ô tô O (địa chỉ số G N, phường T, Quận B, Thành phố Hồ chí Minh).
- - Buộc ông Vũ Hữu M phải hoàn trả lại cho Tổng công ty B1 toàn bộ tài sản thiệt hại (xác xe ô tô BKS 51F - 736.88) hoặc thanh lý xác xe ô tô BKS 51F – 736.88 để đối trừ trực tiếp vào số tiền Tổng công ty B1 phải bồi thường theo phán quyết của Tòa án.
Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, Tổng công ty B1 không có yêu cầu nào khác.
Tại Bản tự khai đề ngày 15/8/2024, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH Ô1 ông Nguyễn Huy H là đại diện theo pháp luật trình bày:
Ngày 14/4/2019, có xảy ra vụ cháy tại X, chi nhánh Công ty TNHH Ô1 ông là đại diện theo pháp luật. Thời điểm này, Công ty có hợp tác tiếp nhận sửa chữa xe cơ giới với Tổng công ty B1. Hậu quả, tất cả các xe đang được bảo quản, lưu giữ tại xưởng bị cháy nổ toàn bộ, trong đó có xe xe ôtô Huyndai Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88 của ông Vũ Hữu M cũng bị thiệt hại hoàn toàn chung với tất cả các xe khác trong vụ cháy.
Ông H xác nhận do vụ cháy xảy ra đã lâu và ông không liên quan gì đến vụ cháy. Do vậy, ông H không có ý kiến gì đối với vụ án dân sự về Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa ông Vũ Hữu M và Tổng công ty B1.
Do điều kiện công việc công việc khó khăn và sức khỏe không ổn định, không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được nên ông H xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, như: Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; các phiên tòa xét xử vụ án.
Tại Bản án sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội quyết định như sau:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Vũ Hữu M đối với bị đơn - Tổng công ty B1 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.
- Buộc Tổng Công ty B1 phải thanh toán trả cho ông Vũ Hữu M tổng số tiền 481.495.533 (Bốn trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm ba mươi ba) đồng, theo hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019 mà hai bên đã ký kết, cụ thể:
- - Tiền bảo hiểm đối với thiệt hại xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 là 350.000.000 đồng.
- - Tiền lãi chậm thanh toán trên số tiền 350.000.000 đồng với lãi suất 10%/năm, kể từ ngày 25/11/2020 tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 131.495.533 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Tổng công ty B1 phải nộp số tiền 23.259.533 (Hai mươi ba triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm ba mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm).
Ông Vũ Hữu M được hoàn lại số tiền 8.750.000 (Tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006335 ngày 15/03/2024 và số tiền 2.916.000 (Hai triệu, chín trăm mười sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006423 ngày 12/04/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.
Sau phiên toà sơ thẩm, Toà án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của Tổng công ty B1
Tại phiên toà phúc thẩm,
Bị đơn - Tổng công ty B1 trình bày: Giữ nguyên quan điểm, yêu cầu đã trình bày. Tổng công ty B1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn - không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện của ông Vũ Hữu M.
Ngày 19/3/2019, ông Vũ Hữu M và Tổng Công ty B1 ký kết hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 cho xe ôtô Huyndai Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88 có trị giá xe 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng. Ông Vũ Hữu M đã thanh toán phí bảo hiểm cho Tổng công ty B1 theo hóa đơn hợp đồng bảo hiểm là 7.508.400 đồng (Bảy triệu, năm trăm linh tám nghìn, bốn trăm đồng).
Ngày 14/4/2019, có sự kiện cháy xe tại Chi nhánh Công ty TNHH Ô, trong đó có xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 của ông Vũ Hữu M.
Sau đó, ông Vũ Hữu M đã gọi điện và thông báo và yêu cầu Tổng công ty B1 thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm. Ngày 25/11/2020, Tổng công ty B1 ban hành công văn số 6378/BHBV-GĐBT XCG về việc từ chối bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với xe ôtô H1 biển kiểm soát 51F-736.88, với lý do không thuộc phạm vi bồi thường bảo hiểm. Căn cứ để Tổng công ty B1 không chi trả tiền bảo hiểm vì thuộc trường hợp áp dụng khoản 10 Điều 11 Quy tắc bảo hiểm 9998: “Loại trừ bảo hiểm trong các trường hợp: ... Hao mòn, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá, hỏng
hóc do khuyết tật hoặc tổn thất thêm do sửa chữa, trong quá trình sửa chữa (bao gồm chạy thử)”.
Trường hợp Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bị đơn thì bị đơn quyền yêu cầu người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm bồi hoàn cho Tổng Công ty B1; Buộc ông Vũ Hữu M phải hoàn trả lại cho bị đơn xác xe ô tô BKS 51F - 736.88; không có yêu cầu dành quyền khởi kiện đối với Công ty TNHH Ô.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Vũ Hữu M: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty B1; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thủ tục kháng cáo:
Tổng công ty B1 nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Vì vậy, kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:
Toà án đã triệu tập hợp lệ các đương sự; tại phiên toà có mặt đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Hữu M; đại diện theo uỷ quyền của Tổng công ty B1. Vắng mặt đại diện Công ty TNHH Ô; các đương sự có mặt không ai có yêu cầu hoãn phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy, sự vắng mặt của Công ty TNHH Ô không thuộc trường hợp hoãn phiên toà mà thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của Tổng công ty B1:
Hội đồng xét xử nhận thấy,
Ngày 19/03/2019, giữa ông Vũ Hữu M và Tổng Công ty B1 ký kết hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019 cho xe ôtô Huyndai Grand Starex biển kiểm soát 51F-736.88; giá trị ôtô Huyndai Starex biển
kiểm soát 51F-736.88 tại thời điểm ký kết hợp đồng là 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng. Ông Vũ Hữu M đã thanh toán phí bảo hiểm cho Tổng công ty B1 theo hóa đơn hợp đồng bảo hiểm với số tiền là 7.508.400 đồng (Bảy triệu, năm trăm linh tám nghìn, bốn trăm) đồng. Hai bên ký kết đúng chủ thể, trên cơ sở tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định chung về hợp đồng dân sự tại Điều 385 của Bộ luật dân sự năm 2015; phù hợp với quy định về hợp đồng bảo hiểm tại các Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 40 Luật kinh doanh bảo hiểm. Do đó, Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/3/2019 có hiệu lực pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Ngày 14/4/2019, tại Chi nhánh Công ty TNHH Ô, địa chỉ 7 N, phường T, Quận B xảy ra vụ cháy, gây thiệt hại toàn bộ trong đó có xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88.
Theo quy định tại Điều 10 Quy tắc bảo hiểm vật chất ô tô ban hành kèm theo Quyết định số 9998/QĐ-BHBV ngày 29/11/2018 của Tổng Công ty B1 trích dẫn tại Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019 có quy định về Phạm vi bảo hiểm: “Bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ xe những thiệt hại vật chất do thiên tai, tai nạn bất ngờ, không lường trước được trong những trường hợp sau.…….1.2. Hoả hoạn, cháy nổ”. Trong quy định này không phân biệt hoàn cảnh hoả hoạn, cháy nổ; không có quy định loại trừ các trường hợp hoả hoạn, cháy nổ cụ thể.
Theo Kết luận giám định số 2528/C09B ngày 30/5/2019 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về nguyên nhân cháy là do "bị tác động nhiệt cháy lan từ khu vực đốt các vật dụng tại bãi đất trống phía sau tiếp giáp với xưởng sửa chữa ô tô, từ đây đám cháy phát triển đi các hướng gây cháy lớn". Do vậy, nguyên nhân cháy là khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của chủ xe, là tai nạn bất ngờ không lường trước được, thoả mãn điều kiện theo quy định tại Điều 10 Quy tắc bảo hiểm vật chất ô tô ban hành kèm theo Quy tắc bảo hiểm 9998 nói trên.
Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự đều xác nhận, sau khi bị thiệt hại, ông Vũ Hữu M đã thực hiện việc thông báo cho Tổng công ty B1.
Tuy nhiên, ngày 25/11/2020, Tổng công ty B1 đã ban hành Công văn số 6378 từ chối bảo hiểm với lý do áp dụng khoản 10 Điều 11 Quy tắc bảo hiểm 9998 có nội dung: “Loại trừ bảo hiểm trong các trường hợp: ...Hao mòn, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá, hỏng hóc do khuyết tật hoặc tổn thất thêm do sửa chữa, trong quá trình sửa chữa (bao gồm chạy thử)”. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đều thể hiện tổn thất của xe ô tô nêu trên là từ nguyên nhân cháy, tác động nhiệt từ bên ngoài; không phải do sửa chữa hoặc trong quá trình sửa chữa; cũng không có tài liệu kết luận nguyên nhân do hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe hoặc người thứ ba gây ra. Ngoài ra, không thuộc các trường hợp từ chối bồi thường thep quy định khoản 3,5 Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019. Do vậy, Tổng công ty B1 áp dụng quy định trên để từ chối chi trả tiền bảo hiểm là không phù hợp; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
người mua bảo hiểm - ông Vũ Hữu M. Toà án sơ thẩm buộc Tổng công ty B1 có trách nhiệm bồi thường cho ông Vũ Hữu M là có căn cứ.
Về mức độ, giá trị thiệt hại và số tiền bảo hiểm: Tại Kết luận định giá tài sản số 217/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, B3, Thành phố Hồ Chí Minh về phần tài sản định giá được đối với xe ô tô Hyundai Starex BKS 51F-736.88 trị giá 350.000.000 đồng. Số tiền trên thuộc mức trách nhiệm, phù hợp với số tiền bảo hiểm quy định tại mục 5 của Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019. Xác định thiệt hại đối với xe ô tô BKS 51F-736.88 là toàn bộ và thuộc phạm vi bảo hiểm theo nhận định ở trên nên nguyên đơn yêu cầu bồi thường số tiền bảo hiểm 350.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả: Sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, ông M đã nộp đơn và hồ sơ yêu cầu bồi thường, thực hiện đúng, đầy đủ, nghĩa vụ của mình; Tổng Công ty B1 không thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho ông M đúng thời hạn là trái với quy định tại Điều 5 của Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019 và điểm c khoản 2 Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm và Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, ông M yêu cầu Tổng Công ty B1 trả tiền lãi do chậm trả tiền bồi thường với mức lãi suất 10%/năm là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về thời gian tính lãi chậm trả: Tại điểm 2.3. khoản 2 Điều 4 Quy tắc bảo hiểm 9998 quy định “Bảo Việt có nghĩa vụ trả tiền bồi thường bảo hiểm trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường đầy đủ, hợp lệ; không quá 30 ngày trong trường hợp Bảo Việt phải tiến hành xác minh hồ sơ. Trong trường hợp Bảo V không đủ thẩm quyền để xác minh các yếu tố có trong hồ sơ thì hồ sơ bồi thường được coi là đầy đủ, hợp lệ sau khi có kết luận chính thức của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Sau 90 ngày kể từ ngày Bảo V có công văn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh mà chưa có kết quả xác minh thì Bảo V phải chủ động xác minh, xem xét, bồi thường”. Như vậy, thời hạn để Bảo V thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm trong trường hợp B1 có công văn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh mà chưa có kết quả xác minh thì Bảo V phải chủ động xác minh, xem xét, bồi thường là 90 ngày kể từ ngày Bảo V có công văn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh. Trong vụ án này B1 ban hành Công văn số 161/BHBV ngày 10/02/2020 gửi Cơ quan CSĐT Công an Q, Thành H về xin sao y sơ đồ, biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện và kết luận điều tra vụ cháy được xác định là Công văn đầu tiên đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh nên thời điểm tính lãi được tính từ ngày 10/5/2020 (sau 90 ngày kể từ ngày 10/02/2020) đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/9/2024 là 04 năm 04 tháng 01 ngày với số tiền bảo hiểm 350.000.000 đồng, mức lãi là 10%/năm.
Việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi kể từ ngày Bảo Việt ban hành Thông báo giải quyết không chấp nhận bồi thường thiệt hại xe ô tô là ngày 25/11/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/9/2024 (3 năm 09 tháng 16 ngày) là không đúng quy định tại Quy tắc bảo hiểm vật chất xe ô tô, tuy nhiên trên nguyên tắc tự nguyện của đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn từ thời điểm 25/11/2020 là phù hợp.
Số tiền lãi phải thanh toán là: 350.000.000đ x 3 năm 09 tháng 16 ngày (1.386 ngày) x 10%/năm = 105.000.000đ + 26.250.000đ + 1.534.246đ = 132.784.246 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tính số tiền lãi là 131.495.533 đồng (do tính số tiền lãi theo ngày, không tính theo ngày, tháng, năm), thiệt hại cho nguyên đơn 1.288.713 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn cũng không có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, mặt khác việc chênh lệch trên do cách tính toán theo lãi suất ngày, tháng khác nhau, do đó không cần thiết phải sửa án sơ thẩm về nội dung trên.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên khai nhận về việc có liên kết sửa chữa giữa Tổng công ty B1 và Công ty TNHH Ô. Tuy nhiên, không đương sự nào cung cấp tài liệu chứng cứ về Hợp đồng cũng như thỏa thuận liên kết sửa chữa nêu trên. Tổng công ty B1 không có yêu cầu độc lập với Công ty TNHH Ô - One Plus nên không có căn cứ để xem xét giải quyết. Tại phiên toà phúc thẩm, Tổng công ty B1 không có yêu cầu dành quyền khởi kiện đối với Công ty TNHH Ô. Hơn nữa, tại điểm e khoản 1 Điều 17, Điều 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định rõ việc bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho Tổng Công ty B1 trong trường hợp có liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba hoặc yêu cầu người được bồi thường trả lại tiền đã nhận bồi thường và bồi thường thiệt hại nếu họ có lỗi trong việc phát sinh sự kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Tổng công ty B1. Tuy nhiên, cần sửa cách tuyên của phần Quyết định bản án.
[3] Về án phí:
Do sửa cách tuyên nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 357, Điều 385, Điều 466; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
- - Điều 271, Điều 272; Điều 273; khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng năm 2015;
- - Điều 12, Điều 13, Điều 16; Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 19, Điều 47, Điều 48, Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của Tổng công ty B1 về nội dung; sửa Bản án sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội về cách tuyên cụ thể như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Vũ Hữu M đối với bị đơn Tổng công ty B1 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.
- Buộc Tổng Công ty B1 phải thanh toán trả cho ông Vũ Hữu M tổng số tiền 481.495.533 (Bốn trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm ba mươi ba đồng) theo hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số PQU.D07.OT.19.HĐ 351 ngày 19/03/2019 mà hai bên đã ký kết (trong đó: Tiền bảo hiểm đối với thiệt hại xe ôtô Huyndai Starex biển kiểm soát 51F-736.88 là 350.000.000 đồng; tiền lãi chậm thanh toán trên số tiền 350.000.000 đồng với lãi suất 10%/năm, kể từ ngày 25/11/2020 tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 131.495.533 đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự: Tổng công ty B1 phải nộp số tiền 23.259.533 (Hai mươi ba triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm ba mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm; không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Được đối trừ số tiền đã nộp 3000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069009 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tổng công ty B1 còn phải nộp số tiền 22.959.533 (Hai mươi hai triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm ba mươi ba) đồng.
Ông Vũ Hữu M được hoàn lại số tiền 8.750.000 (Tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006335 ngày 15/03/2024 và số tiền 2.916.000 (Hai triệu, chín trăm mười sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006423 ngày 12/04/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |
Bản án số 131/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Số bản án: 131/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm
