Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/KDTM-PT

Ngày: 23/5/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn

Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Phúc Hảo

Bà Mai Thị Thanh Tú

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh thương mại thụ lý số: 96/2024/TLPT-KDTM ngày 25 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án sơ thẩm số 157/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2159/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần D; địa chỉ: Lô A, khu công nghiệp N, tỉnh lộ 25B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Minh H, bà Phan Thị Mỹ N là người đại diện theo ủy quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 18/12/2023) – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Bị đơn: Công ty TNHH X; địa chỉ: Số 1 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Hoàng A là người đại diện theo ủy quyền. (Giấy ủy quyền ngày 23/5/2024) – có mặt

Người kháng cáo: Công ty Cổ phần D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, người đại diện

hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Công ty cổ phần D (sau đây gọi tắt là Công ty D) và Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là Công ty X) lần lượt ký kết Hợp đồng kinh tế số 240521/HĐKT/DIC-GP ngày 04/5/2021 và các phụ lục đính kèm về việc cung cấp bê tông thương phẩm phục vụ thi công dự án Charm H hạng mục Xây thô V, B, C, E, F, G tại huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Từ khi giao kết hợp đồng, Công ty D đã cấp bê tông thương phẩm cho Công ty X và xuất các hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty X làm cơ sở thanh toán, với tổng số tiền bê tông đã cấp tính theo đơn giá trên hợp đồng là: 6.972.726.653 đồng. Tính đến ngày khởi kiện Công ty X đã thanh toán cho Công ty D tổng số tiền 6.415.510.000 đồng. Số tiền còn lại mà Công ty X chưa thanh toán là 557.216.653 đồng.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Buộc Công ty X thanh toán nợ gốc 557.216.653 đồng và tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất 1,5%/tháng, tạm tính đến ngày 31/3/2023 là 73.648.471 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm Công ty D vắng mặt nhưng có gửi đơn xin vắng mặt và xác định Công ty X đã thanh toán số tiền nợ gốc 557.216.653 đồng nhưng chưa thanh toán tiền lãi nên yêu cầu Công ty X trả tiền lãi do chậm thanh toán, tính đến ngày xét xử là 85.677.795 đồng.

Bị đơn Công ty TNHH X có người đại diện trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm trình bày:

Công ty XCông ty D cùng ký kết Hợp đồng kinh tế, số: 240521/HĐKT/DIC-GP về việc “Cung cấp bê tông thương phẩm” cho dự án Charm H & S, tại huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Tính từ thời điểm ký Hợp đồng (ngày 04/5/2021) cho đến tháng 10 năm 2022, Công ty X đã thực hiện rất tốt các nội dung về Điều khoản thanh toán (Điều V). Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối tháng 10/2022 đến nay, việc thanh toán quá chậm của các Chủ đầu tư, Nhà thầu chính dẫn đến Công ty G trong việc thanh toán công nợ với các Nhà cung cấp vật tư, thiết bị, bao gồm cả Công ty D. Công ty X đã thanh toán một phần công nợ cho Công ty D - Đ, đến ngày 26/6/2023 công nợ giữa Công ty D và C còn lại: 250.000.061 đồng.

Do tình hình khó khăn chung của các công ty xây dựng nên bị đơn đề nghị nguyên đơn gia hạn thanh toán. Trong quá trình thanh toán tiền hàng, tính đến ngày 31/01/2023 thì bị đơn đã chậm thanh toán nhưng chưa nhận được thư nhắc nợ, công văn của nguyên đơn yêu cầu trả lãi chậm thanh toán.

Mặc dù chậm thanh toán nhưng bị đơn vẫn luôn hợp tác, thiện chí trả nợ, tích cực huy động mọi nguồn lực để trả hết số nợ gốc. Thể hiện qua số tiền nợ gốc tính đến ngày khởi kiện rất nhỏ so với tổng giá trị hợp đồng mà các bên đã giao kết và trả xong nợ gốc vào ngày 19/8/2023.

Do bị đơn đã thanh toán xong nợ gốc, có chậm hơn đề nghị thanh toán của nguyên đơn tại Biên bản hòa giải ngày 26/6/2023 nhưng vẫn có văn bản đề nghị nguyên đơn miễn hoặc giảm lãi. Vì nguyên đơn vắng mặt nên bị đơn tự nguyện

đề nghị trả 35.000.000 đồng tiền lãi chậm thanh toán.

Tại Bản án sơ thẩm số 157/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D.
  2. Công ty TNHH X có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần D – Đồng Tiến tiền lãi do chậm thanh toán là 35.000.000 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D về việc buộc Công ty TNHH X trả tiền lãi do chậm thanh toán đối với số tiền 50.677.795 đồng.
  4. Ghi nhận việc Công ty cổ phần D xác định Công ty TNHH X đã thanh toán số tiền nợ gốc 557.216.653 đồng.
  5. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D về việc buộc Công ty TNHH X trả nợ gốc 557.216.653 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 20/12/2023 Công ty cổ phần D nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm lý do cấp sơ thẩm nhận định về vụ án thiếu toàn diện, thiếu khách quan và không phù hợp pháp luật, đã không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn phải trả lãi trên số tiền chậm trả. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 18/8/2023 là 85.677.795 đồng.

* Tại phiên tòa Phúc thẩm:

Người kháng cáo là Công ty cổ phần D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại văn bản trình bày kháng cáo ngày 23/5/2024 của người đại diện có nội dung như sau: Bản án sơ thẩm nhận định thiếu khách quan, thiếu toàn diện và không phù hợp pháp luật khi:

  • Nhận định các tài liệu chứng cứ do Công ty D xuất trình là 03 Hóa đơn VAT và bảng kê về việc tính lãi là văn bản do nguyên đơn phát hành, không phải là chứng cứ vững chắc để xác định thời điểm bắt đầu tính lãi chậm thanh toán; đồng thời nhận định biên bản xác nhận công nợ gián tiếp thể hiện phía bị đơn không bị tính lãi chậm thanh toán đến ngày 31/01/2023. Do đó chỉ tính lãi chậm thanh toán từ ngày 01/02/2023 đối với số nợ gốc.
  • Bản án sơ thẩm áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình là không đúng với thỏa thuận tại hợp đồng của các bên.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm xem xét chấp nhận việc yêu cầu của Công ty D, buộc Công ty X phải trả tiền lãi do chậm thanh toán trên

khoản tiền nợ gốc là 557.216.653 đồng tính từ thời điểm Công ty D phát hành hóa đơn VAT cho đến thời điểm Công ty X thanh toán dứt điểm khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất là 1,35%/tháng (thấp hơn mức lãi suất quy định tại hợp đồng là 1,5%/tháng). Chi tiết tính lãi được thể hiện tại bảng tính lãi đã nộp tại cấp sơ thẩm vào ngày 26/9/2023, tổng số tiền lãi tính đến ngày ngày 19/8/2023 (là ngày Công ty X thanh toán dứt điểm khoản tiền nợ gốc) là 85.677.795 đồng.

Đại diện nguyên đơn Công ty TNHH X trình bày: Công ty X xác nhận có chậm thanh toán cho Công ty D khoản tiền nợ gốc là 557.216.653 đồng do tình hình khó khăn của doanh nghiệp. Công ty X xác nhận khoản tiền lãi phải trả theo yêu cầu tại đơn khởi kiện của Công ty D là phù hợp với số tiền và thời gian mà Công ty X chậm thanh toán. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm thì nguyên đơn có thay đổi số tiền lãi đã yêu cầu nhiều hơn số tiền lãi đã yêu cầu trước đó, cụ thể từ yêu cầu số tiền là 73.648.471 đồng thì tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn yêu cầu số tiền là 85.677.795 đồng. Đối với khoản chênh lệch nhiều hơn này thì Công ty X chưa được đối chiếu làm rõ với Công ty D, vì vậy Công ty G1 không chấp nhận phần chênh lệnh này. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung: Xét đơn kháng cáo còn trong thời hạn kháng cáo, có hình thức đúng quy định. Xét kháng cáo của Công ty D yêu cầu Công ty X trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là có cơ sở, đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với số tiền là 73.648.471 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án là đúng theo quy định của Pháp luật Tố tụng.
  2. Đơn kháng cáo của Công ty D còn trong thời hạn kháng cáo, có hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.
  3. Xét việc vắng mặt của người kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm: Công ty D là người kháng cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty D.
  1. Xét nội dung kháng cáo của Công ty D về việc đòi Công ty X trả tiền lãi do chậm thanh toán trên khoản tiền nợ gốc là 557.216.653 đồng.
  2. Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm Công ty X xuất trình tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu đòi tiền lãi do chậm trả gồm: Hợp đồng kinh tế số 240521/HĐKT/DIC-GP ngày 04/5/2021; Hóa đơn giá trị gia tăng số 002308 ngày 29/4/2022 giá trị thanh toán là 399.691.627 đồng, Số 00000060 ngày 20/6/2022 giá trị thanh toán 190.931.067 đồng và Số [...] ngày 14/7/2022 giá trị thanh toán là 336.075.050 đồng; Biên bản xác nhận công nợ ký ngày 31/01/2023; Bảng tính lãi trả chậm thanh toán ngày 31/03/2023. Các tài liệu này đã được Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận tại Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ ngày 26/6/2023 và bị đơn không phản đối nên được xác định là chứng cứ vụ án theo quy định của Điều 92, Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Nhận định của Hội đồng xét xử:
  4. Bản án sơ thẩm đã nhận định “Biên bản xác nhận công nợ ngày 31/01/2023 nguyên đơn không đề cập bất khoản tiền lãi nào liên quan đến việc chậm thanh toán trong kỳ thanh toán tháng 01/2023. Đồng thời tại Biên bản xác nhận công nợ cũng thể hiện “Tính đến thời điểm ngày 31/01/2023 số tiền công ty X phải thanh toán cho công ty D là 557.216.653 đồng. Nếu quý công ty thấy có bất kỳ sự chênh lệch nào, xin vui lòng cung cấp đầy đủ thông tin chi tiết vào phần cuối thư này.”. Qua Biên bản xác nhận công nợ đã gián tiếp thể hiện phía bị đơn không bị tính tiền lãi chậm thanh toán đến này 31/01/2023” là không phù hợp với thỏa thuận của các bên về nghĩa vụ do chậm thực hiện thanh toán được quy định tại Điều 5.5 hợp đồng và quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán tại Điều 306 Luật Thương mại, đồng thời trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm Công ty X cũng không có ý kiến phản đối về nghĩa vụ trả lãi do chậm trả trên khoản tiền nợ gốc 557.216.653 đồng, mà chỉ đề nghị được nguyên đơn xem xét miễn hoặc giảm ½ tiền lãi phải trả.
  5. Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm qua việc tiếp cận các chứng cứ vụ án thì Công ty X đã biết được đầy đủ yêu cầu và căn cứ chứng minh của Công ty D về việc yêu cầu trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Thể hiện tại biên bản hòa giải 26/6/2023 đại diện của Công ty X đã xác nhận việc chậm thực hiện thanh toán khoản công nợ bắt đầu từ cuối tháng 10/2022 với số tiền 557.216.653 đồng, đồng thời cam kết sẽ thanh toán toàn bộ nợ gốc trong thời hạn 1 đến 2 tháng, đối với tiền lãi thì sẽ có văn bản gửi đến Công ty D để xin không trả. Do vậy, có cơ sở để xác định đối với khoản tiền lãi tạm tính đến ngày 31/3/2023 là 73.648.471 đồng mà Công ty D đã nêu tại đơn khởi kiện thì Công ty X không phản đối và không yêu cầu tính toán lại về thời gian và mức lãi suất chậm trả, chỉ nêu ý kiến về việc sẽ xin Công ty D cho miễn tiền lãi.
  6. Tại phiên tòa sơ thẩm Công ty D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi văn bản trình bày ý kiến tại phiên tòa theo đó xác nhận Công ty X đã trả hết nợ gốc nên chỉ yêu cầu Tòa giải quyết buộc Công ty X phải trả số tiền lãi do chậm thanh toán tính cho đến ngày trả xong hết khoản tiền nợ gốc, tổng số tiền

lãi yêu cầu là 85.677.795 đồng. Công ty X nêu ý kiến chỉ đồng ý trả số tiền lãi 35.000.000 đồng với lý do tại biên bản hòa giải ngày 26/6/2023 Công ty D có đề nghị sẽ giảm ½ tiễn lãi nếu Công ty X thanh toán toàn bộ số nợ trước ngày 30/7/2023. Như vậy, xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm khoản tiền lãi mà Công ty D yêu cầu Công ty X phải trả 85.677.795 đồng là nhiều hơn so với khoản tiền lãi đã yêu cầu tại đơn khởi kiện là 73.648.471 đồng đã được Công ty X xác nhận, nhưng chưa được đối chiếu làm rõ. Tại cấp phúc thẩm Công ty D kháng cáo nhưng đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không thể cho các bên đối chiếu với nhau để có cơ sở làm rõ phần tính lãi chênh lệch giữa yêu cầu của Công ty D tại đơn khởi kiện và yêu cầu của Công ty D tại phiên tòa sơ thẩm cũng như yêu cầu kháng cáo tại cấp phúc thẩm nên không chấp nhận yêu cầu của Công ty D đối với khoản tiền lãi chênh lệch, chỉ có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty D đòi Công ty X phải trả số tiền lãi là 73.648.471 đồng như đã nhận định tại đoạn [8]. Công ty X đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ ý kiến của Công ty D tại biên bản hòa giải ngày 26/6/2023 để chấp nhận cho Công ty X chỉ trả ½ số tiền lãi là không có cơ sở vì biên bản hòa giải ngày 26/6/2023 chỉ ghi nhận các ý kiến đề xuất của mỗi bên trong khi thương lượng hòa giải, do tại buổi hòa giải này các bên không thống nhất ý kiến nên Tòa án đã lập biên bản hòa giải không thành.

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với số tiền là 73.648.471 đồng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
  1. Về án phí:
  2. Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại như sau:

    • Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 12.029.324 đồng nên phải chịu án phí là 3.000.000 đồng.
    • Bị đơn phải chịu án phí được tính trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận là 73.648.471 đồng nên phải chịu án phí là 3.682.424 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 148, Điều 271, Điều 273, Điều 296, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần D. Sửa bản án sơ thẩm:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D:
  2. Công ty TNHH X có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần D – Đồng Tiến tiền lãi do chậm thanh toán là 73.648.471 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D về việc buộc Công ty TNHH X trả tiền lãi do chậm thanh toán đối với số tiền 12.029.324 đồng.
  4. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D về việc buộc Công ty TNHH X trả nợ gốc 557.216.653 đồng.
  5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
  6. Công ty TNHH X phải chịu án phí sơ thẩm 3.682.424 đồng.

    Công ty cổ phần D phải chịu án phí sơ thẩm là 3.000.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 14.617.302 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013945 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Công ty cổ phần D đã nộp đủ án phí và được trả lại 11.617.302 đồng.

  7. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty cổ phần D không phải chịu án phí phúc thẩm và được hoàn lại số tiền là 2.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001743 ngày 22/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Phúc Hảo

Mai Thị Thanh Tú

Ngô Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/KDTM-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 131/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger