|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 131/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Danh
- Ông Trần Văn Đoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đoàn Thanh P, sinh năm 1978;
Bị đơn: Chị Phạm Thị Tuyết V, sinh năm 1981;
Cùng địa chỉ đăng ký thường trú: A L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ đăng ký tạm trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Các đương sự vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn – anh Đoàn Thanh P trình bày: Anh Đoàn Thanh P kết hôn với chị Phạm Thị Tuyết V, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20-7-2007. Vợ chồng có một người con chung tên Đoàn Thủy T, sinh ngày 12-7-2018. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, không tôn trọng nhau. Hiện vợ chồng không còn chung sống, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên anh P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị V, anh đồng ý giao con chung cho chị V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng chị Phạm Thị Tuyết V vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn – anh Đoàn Thanh P có đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh Đoàn Thanh P khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Phạm Thị Tuyết V, hiện chị V có địa chỉ cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Phạm Thị Tuyết V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; anh Đoàn Thanh P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Anh Đoàn Thanh P và chị Phạm Thị Tuyết V kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20-7-2007, nên xác định hôn nhân giữa anh P và chị V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh P cho rằng quá trình chung sống giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị V không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị V. Chị Phạm Thị Tuyết V mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị V không đến Tòa án theo Giấy triệu tập, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thấy rằng, anh P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, chị V không thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh P. Từ đó, thấy rằng cả chị V và anh P đều không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ vợ chồng. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh P không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P về việc ly hôn với chị V.
[3] Về con chung: Chị Phạm Thị Tuyết V và anh Đoàn Thanh P có 01 người con chung là Đoàn Thủy T, sinh ngày 12-7-2018. Theo anh P, hiện cháu T đang sống chung với chị V. Khi ly hôn, anh P đồng ý giao con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho chị V tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị V và anh P không có yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Anh Đoàn Thanh P xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Phạm Thị Tuyết V không có ý kiến tranh chấp trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.
[5] Về nợ chung: Anh Đoàn Thanh P xác định quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung, chị Phạm Thị Tuyết V không thể hiện ý kiến về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Anh Đoàn Thanh P là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nên anh P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; các điều 81, 82, 83, 84, 85, 86 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Thanh P về việc yêu cầu ly hôn với chị Phạm Thị Tuyết V.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đoàn Thanh P và chị Phạm Thị Tuyết V không còn là vợ chồng.
Về con chung: Giao cháu Đoàn Thủy T, sinh ngày 12-7-2018 cho chị Phạm Thị Tuyết V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Anh Đoàn Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0011318 ngày 01-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nguyễn Xuân An |
Bản án số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 131/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn do mâu thuẫn gia đình
