TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 131/2024/DS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Mai Xuân Thường |
| Ông Hồ Bá Võ |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 146/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 209/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Đức H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Đức H: Anh Phạm Đức C, sinh năm 1987, Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phan Văn H1, sinh năm 1965 và bà Trần Thị Thúy H2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1993; ông Lê Duy C1, sinh năm 1995 - Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phạm Đức C, sinh năm 1987, địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Chị Phạm Thị L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang làm việc tại Cộng hòa S. Vắng mặt.
- - Anh Phạm Đức P, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang làm việc tại Cộng hòa S. Vắng mặt.
- - Người đại diện theo uỷ quyền của chị Phạm Thị L, anh Phạm Đức P: Ông Phạm Đức H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 5 năm 2023, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm ông Phạm Đức H trình bày:
Năm 1994, ông H có mua 01 mảnh đất theo chủ trương của Uỷ ban nhân dân xã, tại xứ Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, được xã quy hoạch thửa để bán, mỗi thửa có chiều dài 51,5 m, chiều rộng 12 m, thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19, tổng diện tích 627,3m², hiện nay chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do: Giữa ông H và hai hộ gia đình liền kề chưa xác định được ranh giới cụ thể giữa các bên.
Thửa đất của gia đình ông H có phía Đông Tây giáp thửa đất số 109, tờ bản đồ số 19 của gia đình ông Phan Văn H1.
Vào khoảng năm 1996, gia đình ông Phan Văn H1 xây bờ rào lấn đất của gia đình ông H 60,5m² về phía Đông Tây tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19 của gia đình ông H.
Cụ thể: Phía trước bám đường quốc lộ 46C là lấn 0,4m; phía sau đường làng lấn sang 2,11m; chiều dài 51,5m, tổng diện tích lấn chiếm là 60,5m².
Thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19, tổng diện tích 627,3 m² là tài sản chung của ông H và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1961 (Bà L1 đã chết ngày 02/5/2023)
Ông H và bà Nguyễn Thị L1 có 03 người con gồm:
- - Phạm Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang làm việc tại Cộng hòa S (Xuất cảnh năm 2007).
- - Phạm Đức C, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
- - Phạm Đức P, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang làm việc tại Cộng hòa S (Xuất cảnh năm 2017).
Bố và mẹ bà Nguyễn Thị L1 là:
- - Bố Nguyễn Văn N1, sinh năm 1916, chết ngày 19/6/1983.
- - Mẹ Nguyễn Thị N2, sinh năm 1922, chết ngày 08/12/2013.
Ông H đã viết đơn gửi Uỷ ban nhân dân xã giải quyết việc tranh chấp. Cụ thể ngày 30/10/2019, ngày 05/11/2019 và ngày 08/12/2021. Uỷ ban nhân dân xã đã mời ba hộ gia đình (ông H, ông Phan Văn H1 và ông Lê Văn H3- người thừa kế đất của ông Lê Văn T), cả ba hộ gia đình đều trú tại: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, để giải quyết ranh giới đất đai liền kề giữa các bên.
Uỷ ban nhân dân xã đã cử cán bộ công chức chuyên môn địa chính trực tiếp xác minh đo lại diện tích của các hộ gia đình theo bản đồ số 19 của Ủy ban nhân dân xã T. Gia đình ông H đã trực tiếp thuê Trung tâm đo đạc tỉnh N đến xác định đất của gia đình ông H bị thiếu 60,5m² so với hiện trạng, là do ông Phan Văn H1 xây bờ rào lấn sang.
Cụ thể: Phía trước bám đường quốc lộ 46C là 0,4m; phía sau đường làng lấn sang 2,11m; chiều dài 51,5m, tổng diện tích lấn chiếm là 60,5m². Uỷ ban nhân dân xã đã hòa giải và vận động gia đình ông Phan Văn H1 trả lại phần đất lấn chiếm trên nhưng gia đình ông Phan Văn H1 không chịu hợp tác và không thực hiện sau ba lần hòa giải không thành công.
Vì vậy, ông H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An:
Buộc gia đình ông Phan Văn H1 trả lại diện tích lấn chiếm là 60,5m², thuộc tờ bản đồ số 19, thửa đất số 101, trị giá phần đất lấn chiếm là 25.852.000 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn đồng), địa chỉ thửa đất: Xứ Đ cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho gia đình ông H (Gồm ông H và 03 người con đã khai ở trên).
Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Phan Văn H1 và Trần Thị Thúy H2 trình bày:
Năm 1994, Uỷ ban nhân dân xã có chủ trương bán đất (Xứ Đ), đặc biệt ưu tiên cho các hộ gia đình chưa có đất, nhà ở.
Vì vậy, gia đình ông bà đã làm đơn và được Ủy ban nhân dân xã B. Dây đất gồm có 10 hộ gia đình liền kề. Từ phía dưới đi lên miếng thứ nhất là gia đình ông bà ở.
Khoảng năm 1996, sau khi được cấp đất, ông bà đã mời gia đình ông Phạm Đức H đến tại miếng đất của ông bà làm nhà ở, xây bờ rào kiên cố chứng kiến, được đào theo mốc Ủy ban nhân dân xã T đã cắm trước và sau giăng dây xây bờ rào, nhà ở cố định từ đó đến nay.
Thực tế vợ chồng ông H1, bà H2 lúc đó cũng không có lí do gì lấn chiếm đất đai.
Theo biểu mẫu của Ủy ban nhân dân xã T (Ngày 17/5/2022) tổng hợp diện tích đất của 31 hộ dân bản trái thẩm quyền, thì trong đó có 03 hộ liền kề có diện tích:
- Bà Vương Thị L2: Diện tích: 472,8m².
- Ông Phạm Đức H: Diện tích: 627,3m².
- Ông Phan Văn H1: Diện tích: 672,6m².
Theo số đo trên thì diện tích đất của bà: Vương Thị L2: 472,8m²; ông: Phạm Đức H 627,3m²/586m²(diện tích được cấp) cũng tăng, chứ không phải gia đình ông bà. Khi cấp đất UBND xã T cũng không có một văn bản hoặc biên bản gì chứng minh phía trước của 03 gia đình liền kề (Bà Vương Thị L2, ông Phạm Đức H, Ông Phan Văn H1) quy định phía trước 12m dài, phía sau cũng 12m dài. Các gia đình lấy phía trước 12m dài, áp dụng phía sau cũng 12m dài là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Theo bản đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất năm 2014 thì vị trí nhà bà H2 đang ở thuộc thửa 109, diện tích 672,6 m², việc diện tích tăng là có mấy lý do sau:
- + Tăng do sai số đo đạc (Thủ công).
- + Tăng do phát quang bờ bụi rậm, vì thửa đất của gia đình bà hiện đang ở tiếp giáp 03 mặt đường, trước khi đo không phát quang bờ bụi rậm để đo.
Thửa đất gia đình bà H2 đang ở phía trước giáp đường quốc lộ 46C, phía sau và cạnh bên phải giáp đường xóm, phía bên phải bà đang ở là đất ông Phạm Đức H, tiếp giáo với đất ông H là thửa đất của ông Lê Văn T (nay ông Lê Văn H3 con ông T thừa kế).
Cũng vì lý do đặc điểm thửa đất gia đình bà có nhiều cạnh bám đường nên diện tích tăng cơ bản như đã trình bày ở trên, đồng thời ở xứ đồng ao có nhiều thửa, nhiều hộ đã xây nhà nên việc bị sai số cộng dồn là điều cần phải xem xét trên toàn bộ cả khu vực, cho nên nếu ông Phạm Đức H cho rằng đất ông thiếu là do bà lấn chiếm là không có cơ sở, bởi sau khi nhận bàn giao đất gia đình bà xây nhà, xây bờ rào kiên cố trước sự chứng kiến của cả gia đình ông Phạm Đức H.
Do đó, bà H2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn của ông H.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Đức C: Anh C đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Đức H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị L và anh Phạm Đức P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và uỷ quyền cho ông Phạm Đức H.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Phạm Đức H, buộc gia đình ông Phan Văn H1 tháo dỡ tài sản trên diện tích đất tranh chấp, trả lại diện tích 60,5 m² lấn chiếm, thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19, tại xứ Đồng Ao cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Ông H đã nộp 5.229.404 đồng và yêu cầu ông H1, bà H2 trả lại, do đó cần buộc ông H1, bà H2 trả lại cho ông H số tiền đã chi phí .
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền thụ lý vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phạm Đức H khởi kiện yêu cầu ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 trả lại diện tích đất đang lấn chiếm là tranh chấp về quyền sử dụng đất và có đương sự khi thụ lý vụ án đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị L và anh Phạm Đức P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có giấy ủy quyền cho ông Phạm Đức H tham gia phiên toà. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 trả lại 60,5m², thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19, địa chỉ tại xứ Đ cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc sử dụng đất của các chủ sử dụng đang tranh chấp:
[2.1.1] Thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19 địa chỉ tại xứ Đồng Ao cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là do Ủy ban nhân dân xã T giao đất năm 1994 vào ngày 30 tháng 12 năm 1994, tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Đức H.
Theo sổ mục kê là thửa đất số 1113, diện tích 586 m² (400 m² đất ở, 186 m² đất vườn), chủ sử dụng đất là Phạm Đức H, theo bản đồ 299 là thửa đất số 1113, diện tích 586 m²; Theo bản đồ địa chính năm 2014 là thửa đất số 101 diện tích 627,3 m². Sau khi được cấp đất, gia đình ông H chưa làm nhà ở. Hiện nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.1.2] Thửa đất số 109, tờ bản đồ số 19 địa chỉ tại xứ Đồng Ao cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là do Ủy ban nhân dân xã T giao đất năm 1994, tên chủ sử dụng đất là ông Phan Văn H1.
Theo sổ mục kê là thửa đất số 1114, diện tích 586 m² (400 m² đất ở, 186 m² đất vườn), chủ sử dụng đất là Phan Văn H1, theo bản đồ 299 là thửa đất số 1114, diện tích 586 m²; Theo bản đồ địa chính năm 2014 là thửa đất số 109 diện tích 672,6 m². Sau khi được cấp đất, khoảng năm 1996, gia đình ông H1 làm nhà ở, xây bờ rào kiên cố. Hiện nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2] Năm 2013, cơ quan có thẩm quyền lập Bản mô tả ranh giới, mốc giới đối với thửa đất của bị đơn, năm 2014 cơ quan có thẩm quyền lập bản kết quả đo dạc địa chính thửa đất, các văn bản này đều có chữ ký đại diện hộ liền kề ông Phạm Đức H. Sau khi cơ quan có thẩm quyền lập các văn bản nêu trên bị đơn cũng không khiếu nại, tranh chấp gì nên Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ để xác định có sự lấn chiếm hay không.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án ông H1 cho rằng bờ tường giữa hai thửa đất đã được ông H1 xây từ năm 1996 có sự chứng kiến, thoả thuận của ông H, việc đất của ông tăng lên là do sai số đo đạc, do phát quang, khai hoang thêm, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét lời khai của ông H1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Năm 1994, Ủy ban nhân dân xã T giao đất cho hộ ông H và ông H1 với diện tích bằng nhau, nhưng hiện tại diện tích đất giữu hai hộ chênh lệch nhau. Ông H1 cho rằng đất của ông tăng lên là do sai số đo đạc, do phát quang, khai hoang thêm dọc đường vào làng nhưng không có căn cứ chứng minh, khi ông H1 tiến hành xây dựng bờ rào cũng không lập biên bản xác định ranh giới với hộ liền kề, ông H cũng không thừa nhận có sự thoả thuận hay chứng kiến sự việc này; ông H1 cũng không báo với cơ quan có thẩm quyền để xác định ranh giới, mốc giới trước khi xây dựng, nên không có căn cứ để xác định ông H1 đã xây bờ tường rào đúng với ranh giới, mốc giới của hai thửa đất.
[2.4] Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/01/2024 và kết quả đo đạc các thửa đất theo hiện trạng của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thể hiện hộ ông Phan Văn H1 đã xây lấn sang phần đất của gia đình ông Phạm Đức H là 60,5 m².
Cụ thể: Tại thửa đất số 101 thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Đức H ở cạnh phía tiếp giáp thửa đất số 109 thuộc quyền sử dụng ông Phan Văn H1, ông H1 xây bờ rào lên phần đất trống của ông H được xác định bởi các điểm 3,4,5,6,7 về điểm 3, tổng diện tích gia đình ông H1 xây lấn qua đất nhà ông H có diện tích 60,5m² (trong đó có 5,4 m² ông H1 xây dựng công trình chăn nuôi trên phần đất lấn qua đất ông H).
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đức H, cần buộc ông Phan Văn H1, bà Trần Thị Thúy H2 tháo dỡ bờ tường xây dài 53,45 m và công trình xây dựng có diện tích 5,4 m² trả lại phần tích diện đất 60,5 m² tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19, tại xứ Đồng Ao cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho ông Phạm Đức H, chị Phạm Thị L, anh Phạm Đức P, anh Phạm Đức C.
[3] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Đức H đã nộp 5.229.404 đồng tạm ứng chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ và đã thanh toán xong. Ông Phạm Đức H yêu cầu bị đơn ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 phải có nghĩa vụ thanh toán chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ cho ông. Do đó, cần buộc ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 có nghĩa vụ thanh toán cho ông H số tiền nêu trên.
[4] Về án phí: Nguyên đơn ông Phạm Đức H khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị đơn ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 160, Điều 161, Điều 164, Điều 166, Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đức H.
Buộc ông Phan Văn H1, bà Trần Thị Thúy H2 tháo dỡ bờ tường xây dài 53,45 m và công trình xây dựng có diện tích 5,4 m² trả lại phần tích diện đất 60,5 m² được xác định bởi các điểm 3,4,5,6,7 về điểm 3, tại thửa đất số 101, tờ bản đồ số 19, tại xứ Đồng Ao cũ, thuộc xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho ông Phạm Đức H, chị Phạm Thị L, anh Phạm Đức P, anh Phạm Đức C. (Có sơ đồ kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 phải trả cho Phạm Đức H 5.229.404 (Năm triệu hai trăm hai chín ngàn bốn trăm linh tư) đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Về án phí: Ông Phan Văn H1 và bà Trần Thị Thúy H2 phải chịu 1.663.750 (Một triệu sáu trăm sáu ba ngàn bảy trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
8
Bản án số 131/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 131/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
